Argon – Wikipedia tiếng Việt

Argon là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn. Nó có ký hiệu Ar và số nguyên tử bằng 18. Là khí hiếm thứ ba trong nhóm 8, argon chiếm khoảng 0,934% khí quyển Trái Đất, điều này làm cho nó trở thành khí hiếm phổ biến nhất trên Trái Đất.

Argon (tiếng Hy Lạp argos có nghĩa là “lười” hoặc “bất động”) đã được Henry Cavendish cho là tồn tại trong không khí từ năm 1785 nhưng chỉ được Lord Rayleigh (John William Strutt, nam tước đời 3 của Rayleigh) và William Ramsay phát hiện chính thức từ năm 1894.

Khí này được cô lập từ không khí lỏng bằng chưng cất phân đoạn do khí quyển Trái Đất chỉ chứa khoảng 0,934% thể tích là argon (1,29% khối lượng). Khí quyển Sao Hỏa chứa tới 1,6% Ar40 và 5 ppm Ar36. Vào năm 2005, tàu thăm dò Huygens cũng đã phát hiện sự tồn tại của Ar40 trên Titan, vệ tinh lớn nhất của sao Thổ [1].

Tính chất lý – hóa[sửa|sửa mã nguồn]

Argon hòa tan trong nước nhiều gấp 2,5 lần nitơ và xấp xỉ độ hòa tan của oxi. Nguyên tố hóa học có độ ổn định cao này là không màu, không mùi trong cả dạng lỏng và khí. Người ta biết rất ít về các hợp chất hóa học của argon, đây là một trong các lý do trước đây nó được gọi là khí trơ. Sự tạo ra argon fluorohydride (HArF), một hợp chất rất không ổn định của argon với hydro và flo đã được các nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp Helsinki thông báo vào năm 2000, nhưng vẫn chưa được xác nhận.

Mặc dù không có hợp chất hóa học nào của argon hiện đã được công nhận, nhưng argon có thể tạo ra các mắt lưới với nước khi các nguyên tử của nó bị mắc kẹt trong lưới các phân tử nước. Các tính toán lý thuyết trên các máy tính đã chỉ ra vài hợp chất của argon mà có thể ổn định nhưng cách thức tạo ra các chất này thì vẫn chưa được biết.

Nó được sử dụng trong các loại đèn điện do nó không phản ứng với dây tóc trong bóng đèn ngay cả ở nhiệt độ cao và trong các trường hợp mà nitơ phân tử là một khí bán trơ không ổn định. Các ứng dụng khác:

Argon cũng được sử dụng trong các thiết bị lặn tự chứa để làm căng quần áo khô, do nó trơ và có độ dẫn nhiệt kém.

Trước năm 1962, argon và những khí hiếm khác nói chung được coi là trơ về mặt hóa học và không có năng lực tạo ra những hợp chất. Tuy nhiên, kể từ thời gian đó, những nhà khoa học đã hoàn toàn có thể bắt những khí hiếm nặng hơn tạo ra những hợp chất. Năm 2000, hợp chất tiên phong của argon được những nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp Helsinki thông tin là đã tạo ra bằng cách chiếu tia cực tím vào argon rắn chứa một lượng nhỏ fluoride hydro ( HF ), và chất tạo ra là Argon fluorohydride ( HArF ) .
Các đồng vị chính của argon tìm thấy trên Trái Đất là Ar40, Ar36 và Ar38. K 40 nguồn gốc tự nhiên với chu kỳ luân hồi bán rã 1,250 x 109 năm, bị phân rã thành Ar40 không thay đổi ( 11,2 % ) bằng bắt electron và bằng bức xạ positron cũng như chuyển thành Ca40 không thay đổi ( 88,8 % ) bằng phân rã beta. Các đặc thù và tỷ suất này được dùng để xác lập niên đại của những loại đá .Trong khí quyển Trái Đất, Ar39 được tạo ra nhờ hoạt động giải trí của những tia ngoài hành tinh, hầu hết là với Ar40. Trong những thiên nhiên và môi trường dưới bề mặt Trái Đất thì nó cũng được tạo ra trải qua bắt neutron của K39 hay phân rã alpha của calci. Agon37 được tạo ra từ phân rã của Ca 40 như là hiệu quả của những vụ thử nghiệm hạt nhân ngầm. Nó có chu kỳ luân hồi bán rã 35 ngày .

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Bài viết liên quan
0328593268
icons8-exercise-96 chat-active-icon