Cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc – Wikipedia tiếng Việt

Rebellion in Qing dynasty Trung Quốc

Cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, còn gọi là cách mạng Thái Bình Thiên Quốc, là một cuộc nổi loạn quy mô lớn ở Trung Quốc giữa phong trào Thái Bình Thiên Quốc do người Khách Gia thuộc dân tộc Hán lãnh đạo chống lại nhà Thanh. Cuộc nổi dậy kéo dài từ 1850 đến 1864, tuy nhiên đến năm 1871 đội quân nổi loạn mới bị xóa sạch. Sau cuộc nội chiến đẫm máu nhất lịch sử, với khoảng 20 đến 30 triệu người chết, triều đình Mãn Thanh giành được thắng lợi cuối cùng, nhưng cùng với đó là những tổn thất lớn về mặt kinh tế và chính trị.

Lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa là Hồng Tú Toàn người Khách Gia (một nhóm người Hán), tự xưng là em trai của chúa Giê-xu. Mục đích của cuộc nổi loạn mang tính chất tôn giáo, dân tộc, và chính trị: Hồng Tú Toàn muốn người Hán đổi sang đạo Bái Thượng đế, đồng thời lật đổ nhà Thanh của người Mãn Châu và thành lập nhà nước mới.[7] Nhà nước đối lập Thái Bình Thiên Quốc được lập ra ở Thiên Kinh (nay là Nam Kinh) và chiếm được một phần đáng kể lãnh thổ phía nam Trung Quốc, với dân số đạt mức gần 30 triệu người.

Trong suốt một thập kỉ, quân đội Thái Bình Thiên Quốc chiếm đóng và giao tranh khắp khu vực thung lũng trung và hạ Dương Tử, leo thang thành một cuộc nổi chiến tổng lực. Đây là đại chiến lớn nhất Trung Quốc kể từ cuộc xâm lăng của Mãn Châu năm 1644, trải dài khắp toàn bộ những tỉnh của Trung Quốc trừ Cam Túc. Cuộc nội chiến cũng là một trong những đại chiến đẫm máu nhất lịch sử vẻ vang quả đât, và là xung đột lớn nhất thế kỷ 19. Tính theo số người chết, cuộc nội chiến này sánh ngang với Thế chiến thứ nhất. [ 9 ] 30 triệu người đã bỏ chạy khỏi những vùng bị chinh phạt tới lập nghiệp tại những khu vực khác ở Trung Quốc. [ 10 ] Cuộc xung đột cho thấy sự tàn khốc của cả hai phe. Binh lính Thái Bình Thiên Quốc thảm sát người Mãn Châu, dân tộc bản địa của gia tộc Ái Tân Giác La, cho rằng họ là hung quỷ. Trong khi đó, nhà Thanh cũng triển khai thảm sát, nhất là so với dân thường ở Thiên Kinh, TP. hà Nội Thiên Quốc .Sau khi bị suy yếu bởi cuộc thay máu chính quyền bất thành sự biến Thiên Kinh và cuộc xâm lăng Bắc Kinh thất bại, Thái Bình Thiên Quốc bị hủy hoại bởi những phiến quân riêng không liên quan gì đến nhau, như Tương quân của Tăng Quốc Phiên. Tháng 5 năm 1862, sau khi hành quân xuống sông Dương Tử và giành lại thành phố An Khánh, Tương quân vây hãm Nam Kinh. Hai năm sau, ngày 1 tháng 6 năm 1864, Hồng Tú Toàn qua đời ; một tháng sau, Nam Kinh thất thủ trong Trận Nam Kinh thứ ba. Cuộc nội chiến lê dài 14 năm làm suy yếu nhà Thanh nghiêm trọng, và chưa đầy 50 năm sau, nhà Thanh sụp đổ. Cuộc nội chiến làm trầm trọng thâm căng thẳng mệt mỏi bè đảng và thôi thúc sự đi lên của chủ nghĩa địa phương, báo trước thời đại quân phiệt khi mà một người Khách Gia khác, Tôn Trung Sơn, lật đổ nhà Thanh trong cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 .

Xuyên suốt thế kỷ 19, nhà Thanh trải qua một loạt các nạn đói, thiên tai, vấn đề kinh tế và thất bại trước các thế lực ngoại quốc; những sự kiện này được gọi chung là “bách niên quốc sỉ” của Trung Quốc.[11] Nông dân bị đánh thuế nặng nề, giá nhà tăng cao khiến tá điền bỏ đất hàng loạt. Quân đội Mãn Thanh bại trận trong chiến tranh nha phiến lần thứ nhất, trong khi kinh tế Trung Quốc bị tác động nặng nề bởi thâm hụt gây ra bởi việc nhập khẩu nha phiến trái phép trên quy mô lớn. Thổ phỉ xuất hiện nhiều hơn, và nhiều hội kín và đơn vị tự vệ được thành lập, dẫn đến sự gia tăng các cuộc xung đột nhỏ.

Trong khi đó, dân số Trung Quốc tăng đáng kể, gần gấp đôi giữa 1766 và 1833, trong khi diện tích quy hoạnh đất nông nghiệp không đổi. Chính quyền Mãn Châu ngày càng suy đồi và tham nhũng, suy yếu ở những vùng phía nam thống trị bởi những băng đảng địa phương. [ 16 ] Tâm lý bài Thanh hiện hữu rõ nhất ở nam Trung Quốc trong hội đồng người Khách Gia, một nhóm người Hán .

Năm 1837, Hồng Tú Toàn, một người Khách Gia từ Quảng Đông, lại trượt khoa cử, đánh mất cơ hội trở thành một sĩ đại phu trong cơ quan nhà nước. Ông trở về nhà, đổ bệnh và nằm liệt giường suốt vài ngày, và trải qua những điều thần bí trong khoảng thời gian này. Năm 1843, sau khi đọc một pamphlet của một nhà truyền đạo Tân Giáo, Hồng Tú Toàn tuyên bố ông đã nhận ra những hình ảnh đó cho thấy ông là em trai của Giê-su và được gửi đến Trung Quốc để diệt trừ “ác quỷ”, bao gồm chính quyền nhà Thanh và tư tưởng Nho Giáo. Năm 1847, ông đến Quảng Châu nghiên cứu Kinh Thánh với Issachar Jacox Roberts, một người truyền đạo Báp-tít Hoa Kỳ.[23] Roberts từ chối rửa tội cho ông và sau này nói rằng những tín đồ của Hồng Tú Toàn “nhất quyết sử dụng những niềm tin tôn giáo khôi hài cho mục đích chính trị”.[24]

250px Qing Empire circa 1820 EN.svg Triều đại nhà Thanh, khoảng chừng năm 1820Năm 1844, không lâu sau khi Hồng Tú Toàn khởi đầu đi giảng đạo khắp Quảng Tây, Fan Hâm mộ của ông Phùng Vân Sơn xây dựng Đạo Bái Thượng đế, một trào lưu tích hợp giữa Ki-tô giáo, Đạo giáo, Nho giáo và thiên hy niên địa phương. Giáo phái Thái Bình ” tăng trưởng thành một tôn giáo Trung Quốc mới … Ki-tô giáo Thái Bình “. Phong trào khởi đầu tăng trưởng với việc thu phục những nhóm thổ phỉ và hải tặc ở nam Trung Quốc cuối thập niên 1840, sau đó đàn áp từ nhà Thanh biến trào lưu trở thành cuộc chiến tranh du kích và ở đầu cuối là nội chiến diện rộng. Cuối cùng, hai người Bái Thượng đế khác công bố họ có năng lực nói thay những người trên ” Thiên đình ” : Dương Tú Thanh với Thượng đế và Tiêu Triều Quý với chúa Giê-su .

  • Crossley, Pamela (2010). The wobbling pivot, China since 1800 : an interpretive history. Chichester, West Sussex, U.K. Malden, MA: Wiley-Blackwell. ISBN 978-1-4051-6080-3. OCLC 430838727.
Bài viết liên quan
0328593268
icons8-exercise-96 chat-active-icon