nghiên cứu sử dụng CHẾ PHẨM HANVET K.T.G nâng cao sức đề kháng và cải thiện khả – Tài liệu text

nghiên cứu sử dụng CHẾ PHẨM HANVET K.T.G nâng cao sức đề kháng và cải thiện khả năng sinh trưởng cho gà THỊT CP 707

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (457.59 KB, 50 trang )

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Lịch phòng vắc xin cho gà 9
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 12
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 27
Bảng 2.2. Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà 28
Bảng 2.3. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 31
Bảng 2.4. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) 32
Bảng 2.5. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) 34
Bảng 2.6. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 35
Bảng 2.7. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg) 36
Bảng 2.8. Chỉ số sản xuất PI của gà thí nghiệm 37
Bảng 2.9. Kết quả mổ khảo sát (6 tuần tuổi) 38
Bảng 2.10. Ảnh hưởng của chế phẩm đến khả năng phòng một số bệnh đường tiêu hóa của
gà thí nghiệm 39

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 33
Hình 2.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 34
Hình 2.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 36
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
ĐC : Đối chứng
SS : Sơ sinh
TN : Thí nghiệm
TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1. Điều tra cơ bản 1

1.1.1. Điều tra tự nhiên 1
1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội 1
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 2
1.1.4. Một số thông tin về cơ sở thực tập 5
1.1.5. Nhận xét chung 6
1.2. Nội dụng, phương pháp kết quả công tác phục vụ sản suất 7
1.2.1. Nội dung phục vụ sản xuất 7
1.2.2. Phương pháp tiến hành 7
1.2.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 8
1.3. Kết luận và đề nghị 12
1.3.1. Kết luận 12
1.3.2. Đề nghị 13
PHẦN 2 14
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 14
2.1. Đặt vấn đề 14
2.2. Tổng quang tài liệu 15
2.2.1. Cơ sở khoa học 15
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu 26
2.3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 26
2.3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 26
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu 27
2.4. Kết quả và phân tích kết quả 30
2.4.1. Kết quả nuôi sống của gà thí nghiệm 30
2.4.2. Kết quả về sinh trưởng của gà thí nghiệm 32
2.4.3. Kết quả về hiệu quả sử dụng thức ăn cho gà thí nghiệm 36
2.4.4. Chỉ số sản xuất PI (production Index) 37
2.4.5. Mổ khảo sát thịt 38
2.4.6. Kết quả về tác dụng phòng bệnh đường tiêu hoá của chế phẩm Hanvet K.T.G 39

2.4.7. Sơ bộ hạch toán thu chi cho 1 kg khối lượng gà xuất bán (đồng/kg) 40
2.5. Kết luận, tồn tại và đề nghị 42
2.5.1. Kết luận 42
2.5.2. Tồn tại 42
2.5.3. Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
I. Tµi liÖu trong níc 43
II. Tµi liÖu dÞch tõ tiÕng níc ngoµi 45
III. Tài liệu nước ngoài 45
1
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều tra tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Phường Quang Vinh thuộc thành phố Thái Nguyên, nằm cách trung tâm
thành phố 3km về phía nam, với tổng diện tích 3,13 km
2
, ranh giới của phường
được xác định như sau:
– Phía Bắc: Giáp huyện Đồng Hỷ
– Phía Nam: Giáp phường Quang Trung và Phường Hoàng Văn Thụ
– Phía Đông: Giáp huyện Đồng Hỷ
– Phía Tây: Giáp phường Quán Triều
1.1.1.2. Điều kiện khí hậu thuỷ văn
Phường Quang Vinh nằm ở phía Bắc của thành phố Thái Nguyên, tỉnh
Thái Nguyên nằm trong khu vực trung du miền núi phía bắc Việt Nam, nên chịu
ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông, khí hậu lạnh, khô
hanh, độ ẩm thấp. Mùa hè, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều. Dao động nhiệt độ và
độ ẩm bình quân các mùa trong năm tương đối cao, thể hiện rõ rệt là mùa mưa và

mùa khô.
+ Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động từ 21 đến
36
0
C, độ ẩm từ 80 – 86%, lượng mưa biến động từ 120,6 đến 283,9 mm/tháng nhưng
tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8. Nhìn chung, khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho
sản xuất nông nghiệp. Tuy vậy, có những ngày nóng ẩm thất thường nên cần chú ý đến
phòng chống dịch bệnh xảy ra đối với đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại cho sản xuất.
+ Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này khí hậu
thường lạnh và khô hanh, nhiệt độ giảm đáng kể. Nhiệt độ trung bình dao động từ
13,7
0
C đến 24,8
0
C (có những ngày xuống dưới 10
0
C), ẩm độ thấp, biến động nhiệt giữa
ngày và đêm rất lớn. Ngoài ra trong mùa đông còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông
Bắc, giá rét và sương muối kéo dài từ 6 – 10 ngày gây ảnh hưởng đến khả năng sinh
trưởng, phát triển và sức chống đỡ bệnh của cây trồng và vật nuôi.
1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
1.1.2.1. Tình hình xã hội
Phường Quang Vinh có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống: Kinh, Sán, Dìu,
Tày…. do đó có sự đa dạng về tập quán canh tác lẫn đời sống văn hóa xã hội.
2
Dân số tại thời điểm năm 2013 là 1.727 hộ với hơn 6.291 nhân khẩu, trong đó
60% là sản xuất nông nghiệp. Do trình độ của nhân dân còn hạn chế, phường lại nằm
gần trung tâm thành phố nên vấn đề xã hội rất phức tạp, nhiều tệ nạn xã hội vẫn đang là
vấn đề cấp bách.
Nhìn chung, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao: công tác

thương binh xã hội, đền ơn đáp nghĩa luôn được cấp Đảng ủy, chính quyền từ
phường tới tổ dân phố quan tâm. Năm 2013 trên toàn phường hầu như không còn
hộ nghèo.Các trạm y tế của phường đã được nâng cấp và sửa chữa.
Năm 2007, phường Quang Vinh đã được công nhận là phường đạt tiêu chuẩn
Quốc gia về y tế. Công tác giáo dục cũng rất được quan tâm. Từ các trường mầm
non đến cơ sở đã thực hiện tốt phong trào thi đua “ Dạy Tốt Học Tốt ”.
Phong trào xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư đã trở thành nề nếp
bảo đảm phát huy những nét văn hóa, thần phong mỹ tục ở địa phương đúng
với nhà nước quy định.
1.1.2.2. Tình hình kinh tế
Phường Quang Vinh có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần kinh tế
cùng hoạt động: Nông – Công nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ, tạo mối quan hệ
hữu cơ hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển. Trong đó sản xuất nông nghiệp
vẫn chiếm trên 60%, bao gồm cả ngành trồng trọt và chăn nuôi cùng nhau phát
triển đồng đều. Dịch vụ là một nghề mới trong giai đoạn hiện nay đang được
chú trọng và phát triển một cách mạnh mẽ bởi nó mang lại hiệu quả kinh tế rất
lớn. Đối với các hộ sản xuất nông nghiệp thu nhập bình quân năm 2013 là
2.120.000đ/người/tháng. Chăn nuôi với quy mô nhỏ mang tính chất tận dụng là
chủ yếu, phường đang chủ trương xây dựng mô hình chăn nuôi có quy mô lớn
trang thiết bị hiện đại để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu
dùng như mô hình chăn nuôi lợn ngoại, trang trại gia cầm, vv
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1. Ngành trồng trọt
Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng và là nguồn thu chủ yếu của nhân
dân. Do vậy, sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển.
Cây nông nghiệp chủ yếu và là cây trồng mũi nhọn trên địa bàn của phường với
tổng diện tích là (177 ha), cây lúa có diện tích trồng khá lớn (117 ha). Để nâng cao
hiệu quả sản xuất, phường đã thực hiện thâm canh tăng vụ (2 vụ/năm) đưa các
giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất. Ngoài ra còn có một số cây khác được
3

trồng khá nhiều như: khoai lang, lạc, đỗ, ngô và một số cây rau màu khác được
trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông.
Để cây trồng đạt năng suất cao thì không thể thiếu vai trò của hệ thống thuỷ
lợi, những năm trước đây hệ thống thuỷ lợi chưa được cải thiện nên diện tích lúa
thường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa, khô hạn về mùa đông, đồng ruộng chỉ cấy
được một vụ. Hiện nay, nhờ kiên cố kênh mương hoá trên đồng ruộng, số diện tích
ngập úng, khô hạn đã được sử dụng có hiệu quả (2 vụ/năm). Người dân đã biết áp
dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, mạnh dạn đưa các giống mới có
năng suất cao nhờ đó đã cơ bản giải quyết được nhu cầu lương thực cho người dân.
1.1.3.2. Ngành chăn nuôi
Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng
phát triển không ngừng với tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có là 29.243 con. Chăn
nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt, đồng thời cung cấp thực phẩm và
nguồn thu nhập kinh tế không nhỏ cho các hộ nông dân.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở phường chủ yếu là tự cung tự cấp, sản phẩm
hàng hoá đưa ra ở thị trường còn ít. Trong những năm gần đây người dân đã biết áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật, từ các hộ sản xuất manh mún, quy mô nhỏ người dân đã
mạnh dạn đầu tư vốn, kỹ thuật, con giống mới có năng suất cao, trang thiết bị hiện
đại vào chăn nuôi nên sản phẩm của ngành chăn nuôi từng bước được nâng cao và
đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu thụ cụ thể như sau:
+ Chăn nuôi trâu bò
Tổng đàn trâu bò của phường có khoảng 113 con, trong đó chủ yếu là trâu.
Hình thức chăn nuôi trâu bò là tận dụng các bãi thả tự nhiên và sản phẩm phụ của
ngành trồng trọt, nên thức ăn cung cấp cho đàn trâu bò chưa thật đầy đủ cả số
lượng và chất lượng. Việc dự trữ các loại thức ăn cho trâu bò vào vụ đông chưa
được quan tâm đầy đủ, vì vậy về mùa đông trâu bò thường có sức khỏe kém nên
hay mắc bệnh. Chuồng trại và công tác vệ sinh thú y chưa được chú trọng nhiều.
Công tác tiêm phòng chưa triệt để, nên trâu bò thường xuyên bị mắc các bệnh ký
sinh trùng và một số bệnh khác.
4

+ Chăn nuôi lợn
Hầu hết các hộ dân đều chăn nuôi lợn, tổng đàn lợn năm 2013 là 1.630 con.
Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn chủ yếu là tận dụng các phế phụ phẩm của
ngành trồng trọt như: lúa, ngô, khoai, sắn, Vì vậy năng suất chăn nuôi lợn chưa
cao. Tuy nhiên, một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn cho chăn nuôi, biết áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi như: Sử dụng các loại thức ăn
hỗn hợp ngoài thị trường để rút ngắn thời gian chăn nuôi, tăng năng suất đem lại
hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi.
Công tác giống lợn đã được quan tâm, nhiều hộ gia đình chăn nuôi lợn nái
Móng Cái hay nái F
1
(Móng cái x Landrace) hoặc nái ngoại thuần để chủ động con
giống và cung cấp một phần sản phẩm ra thị trường.
Công tác vệ sinh thú y còn hạn chế, việc tiêm phòng hàng năm chưa triệt để
nên bệnh vẫn xảy ra gây thiệt hại cho người chăn nuôi, đồng thời ảnh hưởng đến
sản phẩm chăn nuôi cung cấp ra thị trường. Trong những năm tới, mục tiêu là phải
đưa được năng suất sản phẩm, chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu cũng như
đẩy mạnh hơn nữa việc chăn nuôi theo hình thức chăn nuôi công nghiệp.
+ Chăn nuôi gia cầm
Tổng đàn gia cầm lên tới 27.500 con. Nhìn chung, chăn nuôi gia cầm trong
toàn Phường Quang Vinh khá phát triển, chủ yếu là chăn nuôi gà, vịt theo phương
thức chăn nuôi tự nhiên và bán chăn thả. Bên cạnh đó có một số hộ gia đình mạnh
dạn đầu tư vốn xây dựng các trang trại quy mô từ 5.000 – 8.000 gà thịt/lứa, áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã đưa năng suất lên cao.
Nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào chăn nuôi đã có một số gia đình
chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp, mua các con giống mới có
năng suất cao về nuôi như: gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà Sasso, AA, Ross 508,
CP 707 Kết quả đã đem lại thu nhập khá cao cho các hộ chăn nuôi.
Đa số các hộ chăn nuôi gia cầm đã ý thức được tầm quan trọng của việc tiêm
phòng và chữa bệnh, nhất là sử dụng các loại Vaccine tiêm chủng cho gà như: Vaccine

Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, IB, Song vẫn còn một số hộ chăn nuôi chưa
ý thức được công tác phòng bệnh cho vật nuôi, đó cũng là điều đáng lo ngại vì đó là
điểm cư trú và phát tán mầm bệnh gây tác hại cho đàn gia cầm trên địa bàn phường.
* Công tác thú y
Công tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó quyết
định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi, đặc biệt trong điều kiện chăn
5
nuôi quảng canh. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng, ảnh
hưởng đến phát triển kinh tế của người dân. Vì vậy, công tác thú y luôn được ban
lãnh đạo các cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm, chú
trọng như:
+ Tuyên truyền lợi ích vệ sinh phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi.
+ Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm trên địa bàn.
+ Thường xuyên đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở.
+ Theo dõi tình hình, diễn biến dịch bệnh để kịp thời có phương án chỉ đạo.
Chính vì vậy, trong nhiều năm gần đây ngành chăn nuôi của phường được
phát triển mạnh, đảm bảo an toàn kể cả giai đoạn dịch cúm gia cầm xảy ra hầu hết ở
các địa phương trong toàn quốc.
1.1.4. Một số thông tin về cơ sở thực tập
* Địa hình, đất đai
Trại gà gia đình ông Nguyễn Văn Hoạt được thành lập vào năm 2006 tại xóm
Thần Vì, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên nằm trên tuyến đường đi ra
nghĩa trang Thần Vì, phía nam cách đường tàu 200 m, cách trung tâm thành phố 3 km
đi về phía nam.
– Trại có diện tích 3ha trong đó:
– Diện tích trại 800 m
2
hai tầng mỗi tầng 400 m
2
– Diện tích đất trồng trọt là 4000 m

2

– Diện tích ao nuôi cá là 3000 m
2

– Diện tích kho chứa cám, dụng cụ trang thiết bị của trại, máy phát điện là 600 m
2

– Còn lại là các loại đất chưa sử dụng và sử dụng vào mục đích khác.
* Ngành trồng trọt
Do diện tích của trại hẹp nên việc phát triển ngành trồng trọt phục vụ chăn
nuôi của trại rất hạn chế, chưa có điều kiện để phát triển.
* Ngành chăn nuôi
Năm 2006, Trại đã được xây dựng đi vào sản xuất gà thịt.
Từ năm 2006 đến nay trại chăn nuôi chuyên giống gà CP 707 do công ty CP
cung cấp, với quy mô từ 7000 – 8000 gà
Mấy năm gần đây tình hình dịch cúm gia cầm trong nước cũng như điạ
phương có phần tác động đến trại gà của chủ hộ Nguyễn Văn Hoạt nhưng với công
tác phòng chống dịch bệnh nghiêm ngặt nên vẫn đảm bảo an toàn dịch bệnh.
6
* Công tác thú y:
Công tác thú y hết sức được quan tâm. Với phương châm “phòng bệnh hơn
chữa bệnh”, trại đã triệt để thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y đồng thời công tác
chăm sóc, nuôi dưỡng cũng chú ý đúng mức nên dịch bệnh không xảy ra.
Hệ thống chuồng nuôi được đảm bảo thông thoáng về mùa hè, ấm áp về mùa
đông. Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt và vòi phun nước, mùa đông có hệ
thống chắn gió Trại có hàng rào chắn xây bao xung quanh đảm bảo ngăn cách,
biệt lập với khu dân cư. Hàng ngày chuồng trại, máng ăn, máng uống, dụng cụ cho
ăn được quét dọn, cọ rửa sạch sẽ trước khi cho gà ăn. Quy trình tiêm phòng cho đàn
gia cầm được thực hiện nghiêm túc với loại vaccin như: Cúm gia cầm, Gumboro,

Newcastle, Đậu, Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm. Định kỳ tổng vệ sinh toàn bộ
khu vực trại. Hàng ngày cán bộ kỹ thuật theo dõi, phát hiện gia cầm nhiễm bệnh và
tiến hành điều trị hoặc loại thải kịp thời.
1.1.5. Nhận xét chung
Qua kết quả tìm hiểu và điều tra thực tế tại Trại chúng tôi rút ra những nhận
xét chung như sau:
1.1.5.1. Thuận lợi
– Trại cách xa khu dân cư nên hạn chế được dịch bệnh xảy ra.
– Trại luôn được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Sở Nông nghiệp và
PTNT, Chi cục thú y tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan ban ngành liên quan.
– Trại nằm trong địa bàn thành phố Thái Nguyên, có vị trí gần các trung tâm khoa
học kỹ thuật và trục đường giao thông là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tiếp
nhận và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
1.1.5.2. Khó khăn
– Do đất đai bạc mầu, nghèo dinh dưỡng và khí hậu ở một số tháng trong
năm không được thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, khả năng sinh
trưởng, phát triển của vật nuôi cây trồng bị hạn chế.
– Do mới được thành lập và nâng cấp nên Trại không tránh khỏi những khó
khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và sản xuất, kinh nghiệm sản xuất,
kinh nghiệm quản lý chưa nhiều.
7
1.2. Nội dụng, phương pháp kết quả công tác phục vụ sản suất
1.2.1. Nội dung phục vụ sản xuất
1.2.1.1. Công tác phục vụ sản xuất
Để đảm bảo tốt nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp theo yêu cầu của nhà trường,
khoa cũng như giáo viên hướng dẫn, chúng tôi đã đưa ra một số nội dung trong thời
gian thực tập tại cơ sở như sau:
– Công tác ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi
+ Công tác giống: Tham gia chọn lọc gà giống các loại.
+ Công tác thức ăn: Tính toán lượng thức ăn gà ăn hàng ngày.

+ Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc toàn bộ gà của trại
– Công tác thú y
Công tác thú y tại cơ sở trong thời gian thực tập chúng tôi đề ra công việc
phải thực hiện như sau:
+ Ra vào trại đúng nội quy quy định.
+ Làm tốt công tác vệ sinh môi trường, chuồng trại và xung quanh chuồng trại.
+ Thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm phòng.
+ Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho vật nuôi.
1.2.1.2. Công tác nghiên cứu khoa học
Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học với tên đề tài: “Nghiên cứu sử
dụng chế phẩm HanvetK.T.G nhằm nâng cao sức đề kháng và cải thiện khả
năng sinh trưởng cho gà thịt CP 707 tại Tỉnh Thái Nguyên ”
1.2.2. Phương pháp tiến hành
Theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp trong thời gian thực tập tại cơ
sở bản thân đề ra một số biện pháp thực hiện như sau:
– Tìm hiểu kỹ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập và khu vực vành đai.
– Tham gia tích cực công tác tiêm phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia cầm.
– Tham gia công tác chuyển giao con giống và kỹ thuật cho các hộ sản xuất.
– Luôn luôn chấp hành, tham gia các hoạt động của cơ sở, tiếp thu ý kiến của
cán bộ lãnh đạo, của cô giáo hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với thực tế để
nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành hơn nữa.
– Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới mà bản thân tôi đã được học và
tìm hiểu vào thực tiễn sản xuất.
– Tiến hành thí nghiệm sử dụng chế phẩm Hanvet K.T.G bổ sung vào thức ăn
nhằm theo dõi mức độ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và nâng cao sức đề kháng
của gà CP 707
8
1.2.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong quá trình thực tập tại Trại gà chú Hoạt, được sự giúp đỡ tận tình của
thầy giáo hướng dẫn và cán bộ, công nhân viên của trại, kết hợp với sự nỗ lực cố

gắng của bản thân, tôi đã lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn
sản xuất và đã đạt được một số kết quả sau:
* Công tác chọn giống
Công tác chọn giống là một phần hết sức quan trọng quyết định đến hiệu
quả chăn nuôi.
– Phân loại gà con mới nở ra: Gà con mới nở ra phải chọn phân loại loại I,
loại II. Gà loại I là những con nhanh nhẹn khoẻ mạnh, mắt sáng lông mượt, chân
bóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ và đảm bảo khối lượng quy định đối với
từng loại giống.
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của gà và tuỳ từng loại gà mà ta áp dụng
quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp.
– Giai đoạn úm gà con: Khi chuyển từ khu ấp trứng về chúng tôi tiến hành cho
gà con vào quây và cho gà uống nước ngay. Nước uống cho gà phải sạch và pha
B.Complex + vitamin C + đường glucoza 5% cho gà uống hết lượt sau 2 – 3h mới cho
gà ăn bằng khay.
Giai đoạn đầu nhiệt độ trong quây là 30 – 33
0
C. Sau 1 tuần tuổi nhiệt độ cần
thiết là trên 30
0
C, sau đó nhiệt độ giảm dần theo ngày tuổi.
Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh chụp sưởi đảm bảo nhiệt độ thích
hợp theo quy định. Trường hợp nếu gà tập trung đông, tụ đống dưới chụp sưởi là hiện
tượng gà thiếu nhiệt cần hạ thấp chụp sưởi, hoặc tăng bóng điện. Còn gà tách ra xa
chụp sưởi là nhiệt độ nóng quá phải giảm nhiệt cho phù hợp. Chỉ khi nào thấy gà tản
đều ra trong quây thì khi đó là nhiệt độ trong quây phù hợp. Quây gà, máng ăn, máng
uống, rèm che đều được điều chỉnh theo tuổi gà (độ lớn của gà) ánh sáng được đảm
bảo cho gà hoạt động bình thường.
1.2.3.1. Công tác thú y

* Công tác phòng bệnh cho đàn gà
Trong chăn nuôi, công tác đề phòng dịch bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyết
ðịnh ðến hiệu quả kinh tế chãn nuôi và an ninh kinh tế nông nghiệp. Do vậy, trong quá
trình chăn nuôi, chúng tôi cùng với cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại thường xuyên
quét dọn vệ sinh chuồng trại, khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sát
trùng định kỳ, tẩy uế, máng ăn, máng uống. Trước khi vào chuồng cho gà ăn uống phải
9
thay bằng quần áo lao động đã được giặt sạch, đi ủng, đeo khẩu trang để bảo vệ sức khoẻ
người lao động và phòng bệnh cho gia cầm. Gà nuôi ở trại được sử dụng thuốc phòng
bệnh theo lịch trình sau.
Tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm để có miễn dịch chủ động đảm bảo an
toàn trước dịch bệnh. Trước ngày sử dụng vaccine không pha thuốc kháng sinh vào
nước uống trong vòng 8 – 12 h, pha vaccine vào lọ dùng để nhỏ trực tiếp vào miệng,
mắt, mũi hoặc pha ở dạng dung dịch để tiêm. Tính toán liều vaccine phải đủ để mỗi
con nhận được một liều. Dụng cụ pha và nhỏ vaccine không có thuốc sát trùng hoặc
xà phòng, nhiệt độ đảm bảo từ 20 – 25
0
C. Chúng tôi sử dụng vaccine phòng bệnh
cho đàn gà theo lịch như sau:
Bảng 1.1. Lịch phòng vắc xin cho gà
Ngày tuổi Loại vaccine Phương pháp
1-5 Lasota lần 1, Nhỏ mắt, mũi 1 giọt
Gumboro lần 1 Nhỏ miệng 1 – 2 giọt
7 H5N1 Tiêm dưới da cổ
10 Gumboro lần 2 Nhỏ miệng 1 – 2 giọt
15 Lasota lần 2 Nhỏ mắt, mũi 1 giọt
* Chẩn đoán và điều trị bệnh
Trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà tại trại gà ông Hoạt, chúng
tôi luôn theo dõi tình hình sức khoẻ của đàn gà để chẩn đoán và có những hướng
điều trị kịp thời. Thời gian thực tập ở trại, chúng tôi thường gặp một số bệnh sau:

* Bệnh viêm đường hô hấp cấp mãn tính ở gà (CRD, hen gà)
– Nguyên nhân: Bệnh do Mycoplasma gallisepticum gây ra. Các yếu tố tác
động gây nên bệnh cho gà như: điều kiện thời tiết, dinh dưỡng kém, chuồng trại
không đảm bảo vệ sinh (chật trội, ẩm thấp) làm cho gà giảm sức đề kháng và dễ
mắc bệnh ở gà.
– Triệu chứng: Gà mắc bệnh có biểu hiện chảy nước mắt, nước mũi, thở khò
khè, phải há mồm ra để thở, xoã cánh, gà hay quét mỏ xuống đất, đứng ủ rũ, có
tiếng rít rất điển hình (nghe rõ về đêm), gà kém ăn, gầy đi nhanh chóng.
– Bệnh tích: Xác gà gầy, nhợt nhạt, khí quản có dịch, niêm mạc có chấm đỏ, phổi
nhợt nhạt. Khi ghép với E.coli thấy xuất huyết dưới da, lách sưng, ruột xuất huyết.
10
– Điều trị:
+ Anti- CRD: Liều 2g/lít nước uống, dùng liên tục trong vòng 3-5 ngày. Tất
cả các loại bệnh khi điều trị cần kết hợp với các loại thuốc nhằm tăng sức đề kháng
như: Bcomplex (1g/3lít nước), vitamin C, đường Glucose.
+ Bệnh CRD thường ghép với bệnh E.coli, do đó khi điều trị bệnh chúng tôi sử
dụng Bio- Enrafloxacin 10%, liều lượng 1ml/2lít nước uống dùng trong 3 – 5 ngày.
* Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)
– Nguyên nhân: Bệnh cầu trùng do 9 loại Coccidia gây ra, chúng ký sinh ở tế
bào biểu mô ruột. Tuỳ theo từng chủng loại và vị trí gây bệnh mà có những triệu
chứng gây bệnh khác nhau.
– Triệu chứng: Thường gặp ở 2 thể
+ Cầu trùng manh tràng: thường gặp ở gà con từ 4-6 tuần tuổi; gà bệnh ủ rũ, bỏ
ăn, uống nước nhiều, phân lỏng lẫn máu tươi hoặc có màu sôcôla, mào nhợt nhạt (do
thiếu máu). Mổ khám thấy manh tràng xuất huyết.
+ Cầu trùng ruột non gà: Bệnh thường ở thể nhẹ. Triệu chứng chủ yếu là gà ủ
rũ, xù lông, cánh rũ, chậm chạp, phân màu đen như bùn, lẫn nhầy đôi khi lẫn máu;
gà gầy, chậm lớn, chết rải rác kéo dài tỷ lệ chết thấp.
– Điều trị: Chúng tôi sử dụng các loại thuốc sau: Hancoc, liều lượng 1,5-2 ml/1 lít
nước uống dùng trong 4 – 5 ngày liên tục, nghỉ 3 ngày rồi lại dùng 5 ngày liên tục nữa;

ESB 32 %, Anti coccidae – liều lượng 2 g/lít nước uống dùng trong 3 – 5 ngày liên tục.
Ngoài ra, để chống chảy máu chúng tôi kết hợp với Hanvit C và K, liều lượng 0,5-1g/1
lít nước uống.
* Bệnh bạch lỵ gà con
– Nguyên nhân: Do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và Salmonella
pullrum gây ra.
– Triệu chứng: Gà con mắc bệnh biểu hiện kém ăn, lông xù, ủ rũ, phân có màu
trắng, phân loãng dần và dính quanh hậu môn. Đối với gà thường ở thể mãn tính.
– Điều trị:
+ Dùng Getacostrim với liều là 1g/1 lít nước uống, cho gà uống liên tục
3 – 4 ngày.
+ Dùng Ampicoli, liều dùng 1g/1 lít nước, cho uống 3-5 ngày liên tục kết
hợp với Bcomplex liều 1g/3 lít nước.
* Bệnh báng nước
– Nguyên nhân:
11
+ Bệnh báng nước xảy ra quanh năm nhưng về mùa đông tỷ lệ mắc bệnh cao
hơn.
+ Nguyên nhân sinh bệnh chủ yếu là do chăm sóc, quản lý kém, đặc biệt
trong giai đoạn úm, không đủ nhịêt, kém thông thoáng, thiếu oxy và hàm lượng khí
độc (H
2
S, NH
3,
CO
2
…) cao là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bệnh.
– Triệu chứng:
+ Gà mắc bệnh từ rất sớm nhưng biểu hiện bệnh rõ vào giai đoạn 5 – 25
ngày tuổi, đôi khi trước khi xuất thịt mới phát hiện ra bệnh, gà kém ăn, chậm chạp,

sệ bụng do tích nước trong xoang bụng.
+ Thông thường gà chỉ chết do bội nhiễm vi khuẩn gây bệnh như bệnh cầu
trùng, bệnh E.coli, bệnh CRD, …
+ Những trường hợp phát hiện được bệnh thì nên loại thải ngay vì gà bệnh
khả năng tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn cao, hơn nữa gà bệnh sẽ dễ mắc các bệnh
truyền nhiễm khác làm lây lan sang toàn đàn.
Điều trị:
+ Hiện không có thuốc điều trị chỉ có thể phòng bệnh bằng vệ sinh phòng
bệnh tốt, chuẩn bị chuồng úm phải sạch sẽ, thoáng khí, tốt nhất nên thắp đèn 6 – 8
giờ trước khi đưa gà vào úm. Phun thuốc sát trùng định kỳ
+ Nên có nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ.
+ Đặc biệt về mùa đông để đảm bảo nhiệt độ úm nên tăng nhiệt độ bằng cách
thêm bóng đèn hoặc tăng thêm nguồn nhiệt chứ không được đậy kín lồng úm.
+ Cho gà ăn theo bữa, hạn chế khẩu phần ăn 10 – 20%, đặc biệt về mùa
đông, bởi vì nếu ăn nhiều sẽ cần 1 lượng oxy lớn để tiêu hao năng lượng, trong khi
đó những gà đang mắc bệnh này lại đang thiếu oxy.
1.2.3.2. Tham gia các công việc khác
Trong thời gian thực tập, ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thí
nghiệm, bản thân tôi còn tham gia vào một số công việc khác như:
+ Tiêu độc, khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh.
+ Tham gia chọn lọc và loại thải đàn gà không đạt tiêu chuẩn
+ Chăm sóc đàn gà bố mẹ, gà con, gà thịt.
+ Tham gia quản lý máy ấp, chọn trứng, chọn lọc gà giống.
+ Tham gia công tác tư vấn kỹ thuật chăn nuôi như hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi
cho các hộ gia đình mua con giống của trại, từ khâu xây dựng chuồng trại đến khâu vệ
sinh phòng bệnh cũng như kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng khi nuôi gia cầm, gia súc.
12
Sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại gà của chủ hộ Nguyễn Văn Hoạt
chúng tôi đã tham gia và hoàn thành được một số công tác phục vụ sản xuất đã đề
ra. Kết quả của công tác này được thể hiện tổng quát qua bảng sau:

Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Đơn vị Số lượng Kết quả (An toàn, Khỏi)
Số lượng Tỷ lệ (%)
1. Chăm sóc nuôi dưỡng An toàn
Úm gà con Con 7140 6950 97,3
Chăm sóc gà thịt Con 6950 6586 97,7
2. Phòng bệnh bằng vaccine An toàn
Nhỏ lasota Con 7120 7120 100,00
Nhỏ Gumboro Con 7120 7120 100,00
Tiêm Newcastle Con 7120 7120 100.00
Tiêm cúm Con 7120 7120 100,00
3. Điều trị bệnh Khỏi
Bệnh cầu trùng Con 680 650 95,58
Bệnh bạch lỵ gà con Con 500 475 95,00
CRD Con 300 276 82,00
4. Công tác khác An toàn
Sát trùng chuồng trại m
2
800 800 100,00
1.3. Kết luận và đề nghị
1.3.1. Kết luận
1.3.1.1. Bài học kinh nghiệm
Qua thời gian thực tập tại trại của chủ hộ Nguyễn Văn Hoạt, được sự giúp đỡ
của Ban lãnh đạo trại, cán bộ phụ trách và thầy giáo hướng dẫn, cùng với chính
quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi bước đầu tiếp xúc với thực tiễn
sản xuất. Qua đó tôi đã vận dụng được những kiến thức đã học ở trường để củng cố
thêm kiến thức và rèn luyện thêm chuyên môn của mình.
Qua đợt thực tập này tôi thấy mình trưởng thành hơn về nhiều mặt, điều quan
trọng nhất là tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên môn từ thực tiễn
sản xuất như:

+ Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý.
+ Biết cách dùng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh.
+ Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị.
13
+ Tay nghề thực tế được nâng lên rõ rệt.
Trong thời gian thực tập được tiếp xúc với thực tế sản xuất đã giúp tôi
khẳng định được tư tưởng vững vàng, rèn luyện tác phong làm việc, trau dồi,
củng cố và nâng cao kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, giúp tôi yêu ngành yêu
nghề, say mê với công việc và không ngừng cố gắng học hỏi để làm tốt hơn khi
ra thực tế sản xuất. Tôi thấy rằng việc đi thực tập là một việc rất cần thiết đối với
bản thân tôi cũng như tất cả các sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường.
1.3.1.2. Tồn tại
Trong thời gian thực tập với kết quả thu được, tôi thấy mình còn một số tồn
tại sau:
+ Do thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều cho nên
kết quả thu được chưa cao.
+ Còn yếu về tay nghề, đôi khi chưa mạnh dạn trong công việc.
+ Các kiến thức được học tập và rèn luyện ở trường chưa thể vận dụng hết
vào thực tiễn sản xuất.
1.3.2. Đề nghị
Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, tăng cường tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm ở quanh vùng vành đai của
trại. Đồng thời vận động, giải thích cho nhân dân hiểu biết và tự giác thực hiện.
Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh, thì mô hình trang
trại cần trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại và dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y. Mở rộng
quy mô trang trại để đạt mục đích vừa là nơi nghiên cứu khoa học vừa là nơi sản xuất
kinh doanh cho hiệu quả kinh tế cao, cung ứng ra thị trường những sản phẩm thịt chất
lượng, an toàn cho người sử dụng. Tiếp tục tạo điều kiện hơn nữa cho sinh viên vào
thực tập tốt nghiệp cũng như tiến hành các đề tài nghiên cứu khoa học.
Qua thời gian thực tập, tuy kết quả đạt được chưa được nhiều nhưng đó là

nguồn động viên rất lớn đối với tôi và tôi cần cố gắng nhiều hơn nữa để có thêm
nhiều kiến thức và tay nghề vững vàng.
14
PHẦN 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
“Nghiên cứu sử dụng chế phẩm Hanvet K.T.G nhằm nâng cao sức đề kháng
và cải thiện khả năng sinh trưởng cho gà thịt CP 707 tại Tỉnh Thái Nguyên”
2.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm đã và đang được chú trọng đầu
tư phát triển, bởi nó chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong ngành chăn nuôi nói
riêng và đối với nền kinh tế nói chung. Hơn nữa, thịt gà là một loại thịt được nhân
dân ưa dùng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, được sử dụng rộng rãi trong
đời sống hàng ngày. Ngành chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh cả về số lượng và chất
lượng là nhờ áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thì việc
đầu tư cho phát triển nông thôn bền vững là việc hết sức quan trọng. Từ đó, Cục
chăn nuôi nước ta đã có những chính sách xây dựng một hệ thống chăn nuôi tiên
tiến theo tiêu chuẩn thế giới, đồng thời phát triển ngành chăn nuôi theo hướng
chất lượng và có hiệu quả, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam trên thị trường thế giới.
Để thúc đẩy ngành chăn nuôi gà theo hướng phát triển gắn liền với nền kinh tế
thị trường, cùng với nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước, ngoài vấn đề con giống và
việc ứng dụng nhiều biện pháp như: Bổ sung kháng sinh, vitamin… vào thức ăn nước
uống thì việc sử dụng một số men vi sinh vật có ích dựa trên cơ sở của quá trình lên
men đang được sử dụng rộng rãi, đem lại lợi ích tương đối cao cho người chăn nuôi.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sử sụng chế
phẩm Hanvet K.T.G nhằm nâng cao sức đề kháng và cải thiện khả năng sinh
trưởng cho gà thịt CP 707 tại Tỉnh Thái Nguyên”.
*Mục đích của đề tài

– Xác định ảnh hưởng của chế phẩm đến sức đề kháng của gà thịt
– Xác định ảnh hưởng của chế phẩm đến khả năng sinh trưởng của gà thịt
15
2.2. Tổng quang tài liệu
2.2.1. Cơ sở khoa học
2.2.1.1. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gia cầm
Theo Lê Hồng Mận (2007) [13] sự trao đổi chất và năng lượng ở gia cầm cao
hơn so với động vật có vú và được bồi bổ nhanh chính bởi quá trình tiêu hóa và hấp
thụ các chất dinh dưỡng. Khối lượng rất lớn các chất tiêu hóa đi qua ống tiêu hóa
thể hiện tốc độ và cường độ của các quá trình tiêu hóa ở gà, vịt, ở gà còn non tốc độ
là 30 – 39cm/giờ, gà con lớn hơn là 32 – 40cm/giờ, và ở gà trưởng thành là 40 –
42cm/giờ, chất tiêu hóa được giữ lại trong ống tiêu hóa không quá 2 – 4giờ.
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 – 240 lần, lúc đói mổ nhanh,
mỏ mở rộng. Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ họng để đưa thức
ăn về phía thực quản – thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và
khứu giác ý nghĩa kém hơn.
Tuyến nước bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy. Nước bọt có
tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nước bọt có chứa một số ít
men amylaza nên có ít tác dụng đối với tiêu hóa. Gà mái có thể tiết 7 – 25ml nước bọt
trong một ngày đêm (bình quân khoảng 12ml) (Nguyễn Duy Hoan, 1998) [3]. Thức ăn
vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày, không giữ lại lâu ở diều.
* Tiêu hóa ở diều
Diều gà hình túi ở thực quản chứa được 100 – 120mg thức ăn. Giữa các cơ
thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dưới của thực quản và
dạ dày không qua túi diều.
Ở diều thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men
và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật. Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn. Khi
thức ăn và nước có tỉ lệ 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 – 6 giờ.
Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 – 5,8. Sau khi ăn từ 1- 2 giờ diều co bóp theo

dạng dãy với khoảng cách 15 – 20 phút, sau khi ăn từ 5 – 12 giờ là 10 – 12 phút.
Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân
giải thành đường đa rồi một phần chuyển thành đường glucoza
* Tiêu hóa ở dạ dày
Dạ dày chia ra: Dạ dày tuyến và dạ dày cơ
– Dạ dày tuyến: Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày, khối lượng
khoảng từ 3,5 – 6 gam.
16
Vách gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết
Dịch có chứa chlohydric, pepsin và musin. Sự tiết dịch diễn ra liên tục, sau
khi ăn càng được tăng cường
Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ăn
chuyển xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá một
lần/phút)
– Dạ dày cơ:
Cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh. Dạ dày cơ không
tiết dịch tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ. Thức ăn
được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới tác dụng của men dịch dạ
dày, enzyme và các vi khuẩn. Acid Chlohydric tác động làm cho các pepton và một
phần thành các acid amin.
Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được truyền vào tá tràng có các men của
dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp
cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid. Sỏi và các dị vật trong
dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày. Tốt nhất nên cho gà ăn sỏi thạch
anh vì không bị phân hủy bởi Acid Chlohydric.
Tiêu hóa ở ruột
Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh dưỡng đều được
tiến hành chủ yếu ở ruột non.
Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7.42 với độ đặc 1.0076 và chứa các
men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza.

Dịch tuyến tụy – pancreatic – lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi
toan hoặc kiềm (pH = 6 ở gà, pH = 7,2 -7,5 ở gia cầm khác). Dịch này có men
tripsin, carboxi peptidaza, mantaza và lipaza. Trong các chất khô của dịch này có
các acid amin, lipid và các chất khoáng CaCl
2
, NaCl, NaHCO
3

Gà một năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4 – 0,8ml/giờ, sau khi 5
– 10 phút lượng tiết tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm dần. Thành
phần thức ăn có ảnh hưởng đến quá trình tiết dịch men của tụy, thức ăn giàu protein
nâng hoạt tính proteolyse lên 60%, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic,…
Mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, lỏng màu sáng
hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH =7,3 – 8,5.
Mật có vai trò đa dạng trong quá trình tiêu hóa của gia cầm, gây nên nhũ
tương mỡ, hoạt hóa các men tiêu hóa của dịch tụy, kích thích làm tăng nhu động
17
ruột, tạo điều kiện hấp thu các chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa, đặc biệt là các
acid béo mà chúng tạo thành các hợp chất dễ hòa tan. Mật ngăn cản việc gây nên
vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có tính diệt khuẩn.
Ở ruột gluxit được phân giải thành các monosaccarit do men amylaza của
dịch tụy, một phần của dịch ruột.
Phần dưỡng chất không được hấp thu ở ruột non chuyển xuống manh tràng
và van hồi manh tràng của ruột già.
Ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầy
tiết ra dịch nhầy. Quá trình tiêu hóa trong ruột già phụ thuộc vào enzyme của ruột
non đi xuống, các enzyme này chỉ hoạt động ở phần đầu ruột già. Ở đây cũng diễn
ra quá trình tiêu hóa như ở ruột trong ruột non.
Trong ruột già còn có hệ vi sinh vật cư trú, về số lượng và chủng loại giống
như trong dạ dày cỏ của động vật nhai lại. Các vi sinh vật này hoạt động chủ yếu ở

manh tràng, phân giải cellulose, bột đường, protein.
Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do tác dụng của emzyme ở ruột
non đi xuống còn chủ yếu nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật. Quá trình tiêu hóa
cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid sẽ được
hấp thu ở đây.
Một số vi khuẩn lại sử dụng một số chất trong ruột già để tổng hợp nên
vitamin K, vitamin B
12
, và phức hợp vitamin B. Trong ruột già còn có quá trình viên
phân, tạo phân (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2005) [19].
2.2.1.2. Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh
trưởng của gia cầm
* Khái niệm sinh trưởng
Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các đặc
trưng cơ bản của sự sống. Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng là một đặc
trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Theo tài liệu của Chambers J.K (1990) [29], thì tác giả MoZan (1977) đã đưa
ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như
thịt, xương, da. Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà
còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác. Trần Đình Miên (1992) [14], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do
đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ
phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”.
18
Sinh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất
lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể.
Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ
thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc tuân theo tính quy
luật và theo giai đoạn.
* Những nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm

– Ảnh hưởng của dòng, giống
Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng sinh
trưởng khác nhau. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và Cs (1994) [8], sự khác nhau về
khối lượng cơ thể gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng năng suất thịt cao hơn
giống gà hướng trứng từ 500 – 700g/con (13- 30%).
Theo tài liệu của Chambers. J.K (1990) [29], thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự
phát triển của cơ thể gà. Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới
sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ.
– Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể con do yếu tố
tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái.
Theo Phùng Đức Tiến (1997) [22], thì J.F.Hayers (1979) đã xác định biến dị di
truyền về tốc độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính. Những alen quy định tốc độ mọc lông
nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao. Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gà
mái mọc lông nhanh hơn gà trống.
Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có
tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn. Đây cũng là tính trạng di
truyền liên kết với giới tính (BiichelH và Brandsch, 1987) [27].
– Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm.
Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia
cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng.
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng
sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối
lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống.
Theo Chambers J.K (1990) [29], thì tương quan giữa tăng trọng của gà và
hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 – 0,9). Để phát huy khả năng sinh trưởng
của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng thức ăn theo nhu cầu, mà
19
còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng lượng. Do vậy, khẩu phần ăn

cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm và đây là một trong
những vấn đề cơ bản.
– Ảnh hưởng của môi trường
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của
gia cầm. Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm,
thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi,
thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe
của gia cầm.
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh
tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới
(Wasburn, K.Wepal, 1992) [32].
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng, vì gà rất
nhạy cảm với ánh sáng, do vậy, chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan
tâm. Ngoài ra, trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau
như: ẩm độ, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi
nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm.
* Những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng
– Khối lượng cơ thể: Khối lượng cơ thể từng thời kỳ là chỉ tiêu sử dụng
để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm. Tuy nhiên, chỉ tiêu này xác định
được khả năng sinh trưởng ở một thời điểm xác định của cơ thể nhưng không chỉ ra
được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng của cơ thể trong một khoảng thời gian ở các
độ tuổi khác nhau.
Chỉ tiêu khối lượng cơ thể được minh họa bằng đồ thị gọi là đồ thị sinh
trưởng tích lũy. Đồ thị này thay đổi theo dòng giống, điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng. Đối với gia cầm khối lượng cơ thể tính theo tuần tuổi có đơn vị là
kg/con/tuần hoặc g/con/tuần.
– Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích
của cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát. Sinh trưởng tuyệt đối tính
bằng g/con/ngày. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị sinh trưởng
tuyệt đối càng cao thì càng có hiệu quả kinh tế cao.

– Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước và thể tích
cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng
hypebol, gà còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi.
20
2.2.1.3. Vài nét về giống gà thịt CP 707
* Nguồn gốc
Tại Việt Nam, khi đưa các giống gà này vào sản xuất các hãng kinh doanh
thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y nước ngoài cùng với các cơ quan đơn vị trong nước
đầu tiên là trung tâm giống gia cầm Thụy Phương – viện chăn nuôi đã tiến hành
nghiên cứu với các điều kiện môi trường khí hậu của nước ta và các điều kiện chăn
nuôi như công nghệp, bán công nghiệp chuồng hở thông thoáng tự nhiên…từ những
năm 1992. Công ty chăn nuôi CP Việt Nam cũng đã tiến hành nghiên cứu và lai tạo
giống gà Ross 308 để tạo ra giống gà Broiler chuyên thịt với tên gọi là CP 707 có
những phẩm chất hoàn toàn tương tự gà Broiler Ross 308.
Gà thịt CP 707 lúc mới nở cả con trống và mái đều có lông màu vàng. Lúc
trưởng thành cả con trống và con mái đều có lông màu trắng, chân và mỏ màu vàng,
mào đơn. Tỷ lệ thân thịt tương đối cao so với khối lượng sống, ngực sâu rộng, cơ
đùi và ngực phát triển cho tỷ lệ thịt hai phần này cao.
Gà thịt CP 707 là một trong những giống gà chuyên thịt cao sản nhất trên thế
giới được nhập vào nước ta từ những năm 90 để nuôi thí nghiệm tại các cơ sở
giống đầu ngành như trung tâm giống gia cầm Thụy Phương, xí nghiệp giống Tam
Đảo để theo dõi sau đó nhân rộng ra cả nước. Khi đưa ra nuôi đại trà hay quy mô
công nghiệp thì rất được ưa chuộng do khả năng thích nghi chống chịu với khí hậu
Việt Nam tốt hơn nhiều giống cao sản khác, sinh trưởng nhanh trong khi tiêu tốn
thức ăn ít chất lượng thịt tốt.
*Đặc điểm và chỉ tiêu năng xuất
– Đặc điểm
Trống và mái đều có lông màu trắng, con trống có da mào đỏ hơn con mái.
Con trống có kích thước lớn hơn con mái ở giai đoạn 3 tuần tuổi trở đi. Con trống
có mào, tích, tai phát triển, mào đỏ tươi, mào đơn ức sâu nhiều thịt.

– Chỉ tiêu năng suất
Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007) [1] cho
biết: khối lượng gà CP 707 nuôi thịt đến 42 ngày tuổi trung bình nặng là 2,5 – 3,0
kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 1,6 – 2,0 kg
2.2.1.4. Những hiểu biết về bệnh đường tiêu hoá của gà
Do gà có đặc tính tiêu hoá nhanh cho nên khi ăn thức ăn có nhiễm khuẩn,
chuồng nuôi không vệ sinh hoặc môi trường thay đổi thì bệnh lây lan rất nhanh,
trong đó phải kể đến một số bệnh như cầu trùng, bạch lỵ, Salmonella, E.coli.
1.1.1. Điều tra tự nhiên 11.1.2. Điều kiện kinh tế tài chính – xã hội 11.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 21.1.4. Một số thông tin về cơ sở thực tập 51.1.5. Nhận xét chung 61.2. Nội dụng, chiêu thức tác dụng công tác làm việc Giao hàng sản suất 71.2.1. Nội dung Giao hàng sản xuất 71.2.2. Phương pháp triển khai 71.2.3. Kết quả công tác làm việc Giao hàng sản xuất 81.3. Kết luận và đề xuất 121.3.1. Kết luận 121.3.2. Đề nghị 13PH ẦN 2 14CHUY ÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 142.1. Đặt yếu tố 142.2. Tổng quang tài liệu 152.2.1. Cơ sở khoa học 152.2.2. Tình hình điều tra và nghiên cứu trong nước và ngoài nước 242.3. Đối tượng, nội dung và chiêu thức điều tra và nghiên cứu 262.3.1. Đối tượng nghiên cứu và điều tra 262.3.2. Địa điểm và thời hạn thực thi 262.3.3. Nội dung nghiên cứu và điều tra và những chỉ tiêu theo dõi 262.3.4. Phương pháp điều tra và nghiên cứu 272.4. Kết quả và nghiên cứu và phân tích tác dụng 302.4.1. Kết quả nuôi sống của gà thí nghiệm 302.4.2. Kết quả về sinh trưởng của gà thí nghiệm 322.4.3. Kết quả về hiệu suất cao sử dụng thức ăn cho gà thí nghiệm 362.4.4. Chỉ số sản xuất PI ( production Index ) 372.4.5. Mổ khảo sát thịt 382.4.6. Kết quả về công dụng phòng bệnh đường tiêu hoá của chế phẩm Hanvet K.T.G 392.4.7. Sơ bộ hạch toán thu chi cho 1 kg khối lượng gà xuất bán ( đồng / kg ) 402.5. Kết luận, sống sót và đề xuất 422.5.1. Kết luận 422.5.2. Tồn tại 422.5.3. Đề nghị 42T ÀI LIỆU THAM KHẢO 43I. Tµi liÖu trong níc 43II. Tµi liÖu dÞch tõ tiÕng níc ngoµi 45III. Tài liệu quốc tế 45P hần 1C ÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT1. 1. Điều tra cơ bản1. 1.1. Điều tra tự nhiên1. 1.1.1. Vị trí địa lýPhường Quang Vinh thuộc thành phố Thái Nguyên, nằm cách trung tâmthành phố 3 km về phía nam, với tổng diện tích quy hoạnh 3,13 km, ranh giới của phườngđược xác lập như sau : – Phía Bắc : Giáp huyện Đồng Hỷ – Phía Nam : Giáp phường Quang Trung và P. Hoàng Văn Thụ – Phía Đông : Giáp huyện Đồng Hỷ – Phía Tây : Giáp phường Quán Triều1. 1.1.2. Điều kiện khí hậu thuỷ vănPhường Quang Vinh nằm ở phía Bắc của thành phố Thái Nguyên, tỉnhThái Nguyên nằm trong khu vực trung du miền núi phía bắc Nước Ta, nên chịuảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa gió mùa. Mùa đông, khí hậu lạnh, khôhanh, độ ẩm thấp. Mùa hè, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều. Dao động nhiệt độ vàđộ ẩm trung bình những mùa trong năm tương đối cao, bộc lộ rõ ràng là mùa mưa vàmùa khô. + Mùa mưa : Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ giao động từ 21 đến36C, nhiệt độ từ 80 – 86 %, lượng mưa dịch chuyển từ 120,6 đến 283,9 mm / tháng nhưngtập trung nhiều vào những tháng 6, 7, 8. Nhìn chung, khí hậu vào mùa mưa thuận tiện chosản xuất nông nghiệp. Tuy vậy, có những ngày nóng ẩm thất thường nên cần chú ý quan tâm đếnphòng chống dịch bệnh xảy ra so với đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại cho sản xuất. + Mùa khô : Kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời hạn này khí hậuthường lạnh và khô hanh hao, nhiệt độ giảm đáng kể. Nhiệt độ trung bình xê dịch từ13, 7C đến 24,8 C ( có những ngày xuống dưới 10C ), ẩm độ thấp, dịch chuyển nhiệt giữangày và đêm rất lớn. Ngoài ra trong mùa đông còn chịu tác động ảnh hưởng của gió mùa ĐôngBắc, giá rét và sương muối lê dài từ 6 – 10 ngày gây ảnh hưởng tác động đến năng lực sinhtrưởng, tăng trưởng và sức chống đỡ bệnh của cây xanh và vật nuôi. 1.1.2. Điều kiện kinh tế tài chính – xã hội1. 1.2.1. Tình hình xã hộiPhường Quang Vinh có nhiều đồng bào dân tộc bản địa sinh sống : Kinh, Sán, Dìu, Tày …. do đó có sự phong phú về tập quán canh tác lẫn đời sống văn hóa truyền thống xã hội. Dân số tại thời gian năm 2013 là 1.727 hộ với hơn 6.291 nhân khẩu, trong đó60 % là sản xuất nông nghiệp. Do trình độ của nhân dân còn hạn chế, phường lại nằmgần TT thành phố nên yếu tố xã hội rất phức tạp, nhiều tệ nạn xã hội vẫn đang làvấn đề cấp bách. Nhìn chung, mức sống của dân cư ngày càng được nâng cao : công tácthương binh xã hội, đền ơn đáp nghĩa luôn được cấp Đảng ủy, chính quyền sở tại từphường tới tổ dân phố chăm sóc. Năm 2013 trên toàn phường phần đông không cònhộ nghèo. Các trạm y tế của phường đã được tăng cấp và thay thế sửa chữa. Năm 2007, phường Quang Vinh đã được công nhận là phường đạt tiêu chuẩnQuốc gia về y tế. Công tác giáo dục cũng rất được chăm sóc. Từ những trường mầmnon đến cơ sở đã triển khai tốt trào lưu thi đua “ Dạy Tốt Học Tốt ”. Phong trào thiết kế xây dựng đời sống văn hóa truyền thống khu dân cư đã trở thành nề nếpbảo đảm phát huy những nét văn hóa truyền thống, thần phong mỹ tục ở địa phương đúngvới nhà nước pháp luật. 1.1.2. 2. Tình hình kinh tếPhường Quang Vinh có cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính phong phú, nhiều thành phần kinh tếcùng hoạt động giải trí : Nông – Công nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ, tạo mối quan hệhữu cơ tương hỗ thôi thúc nhau cùng tăng trưởng. Trong đó sản xuất nông nghiệpvẫn chiếm trên 60 %, gồm có cả ngành trồng trọt và chăn nuôi cùng nhau pháttriển đồng đều. Thương Mại Dịch Vụ là một nghề mới trong quá trình lúc bấy giờ đang đượcchú trọng và tăng trưởng một cách can đảm và mạnh mẽ bởi nó mang lại hiệu suất cao kinh tế tài chính rấtlớn. Đối với những hộ sản xuất nông nghiệp thu nhập trung bình năm 2013 là2. 120.000 đ / người / tháng. Chăn nuôi với quy mô nhỏ mang đặc thù tận dụng làchủ yếu, phường đang chủ trương kiến thiết xây dựng quy mô chăn nuôi có quy mô lớntrang thiết bị hiện đại để phân phối được nhu yếu ngày càng cao của người tiêudùng như quy mô chăn nuôi lợn ngoại, trang trại gia cầm, vv1. 1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp1. 1.3.1. Ngành trồng trọtNgành trồng trọt đóng vai trò quan trọng và là nguồn thu hầu hết của nhândân. Do vậy, loại sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân chăm sóc và tăng trưởng. Cây nông nghiệp hầu hết và là cây xanh mũi nhọn trên địa phận của phường vớitổng diện tích quy hoạnh là ( 177 ha ), cây lúa có diện tích quy hoạnh trồng khá lớn ( 117 ha ). Để nâng caohiệu quả sản xuất, phường đã triển khai thâm canh tăng vụ ( 2 vụ / năm ) đưa cácgiống lúa mới có hiệu suất cao vào sản xuất. Ngoài ra còn có 1 số ít cây khác đượctrồng khá nhiều như : khoai lang, lạc, đỗ, ngô và 1 số ít cây rau màu khác đượctrồng xen giữa những vụ lúa nhưng hầu hết là trồng vào mùa đông. Để cây cối đạt hiệu suất cao thì không hề thiếu vai trò của mạng lưới hệ thống thuỷlợi, những năm trước kia mạng lưới hệ thống thuỷ lợi chưa được cải tổ nên diện tích quy hoạnh lúathường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa, khô hạn về ngày đông, đồng ruộng chỉ cấyđược một vụ. Hiện nay, nhờ vững chắc kênh mương hoá trên đồng ruộng, số diện tíchngập úng, khô hạn đã được sử dụng có hiệu suất cao ( 2 vụ / năm ). Người dân đã biết ápdụng những giải pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, mạnh dạn đưa những giống mới cónăng suất cao nhờ đó đã cơ bản xử lý được nhu yếu lương thực cho người dân. 1.1.3. 2. Ngành chăn nuôiSong tuy nhiên với sự tăng trưởng của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũngphát triển không ngừng với tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có là 29.243 con. Chănnuôi cung ứng sức kéo, phân bón cho trồng trọt, đồng thời phân phối thực phẩm vànguồn thu nhập kinh tế tài chính không nhỏ cho những hộ nông dân. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở phường hầu hết là tự cung tự túc tự cấp, sản phẩmhàng hoá đưa ra ở thị trường còn ít. Trong những năm gần đây người dân đã biết ápdụng những văn minh kỹ thuật, từ những hộ sản xuất manh mún, quy mô nhỏ người dân đãmạnh dạn góp vốn đầu tư vốn, kỹ thuật, con giống mới có hiệu suất cao, trang thiết bị hiệnđại vào chăn nuôi nên mẫu sản phẩm của ngành chăn nuôi từng bước được nâng cao vàđáp ứng được nhu yếu của thị trường tiêu thụ đơn cử như sau : + Chăn nuôi trâu bòTổng đàn trâu bò của phường có khoảng chừng 113 con, trong đó đa phần là trâu. Hình thức chăn nuôi trâu bò là tận dụng những bãi thả tự nhiên và loại sản phẩm phụ củangành trồng trọt, nên thức ăn phân phối cho đàn trâu bò chưa thật không thiếu cả sốlượng và chất lượng. Việc dự trữ những loại thức ăn cho trâu bò vào vụ đông chưađược chăm sóc vừa đủ, vì thế về mùa đông trâu bò thường có sức khỏe thể chất kém nênhay mắc bệnh. Chuồng trại và công tác làm việc vệ sinh thú y chưa được chú trọng nhiều. Công tác tiêm phòng chưa triệt để, nên trâu bò tiếp tục bị mắc những bệnh kýsinh trùng và một số ít bệnh khác. + Chăn nuôi lợnHầu hết những hộ dân đều chăn nuôi lợn, tổng đàn lợn năm 2013 là 1.630 con. Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn đa phần là tận dụng những phế phụ phẩm củangành trồng trọt như : lúa, ngô, khoai, sắn, Vì vậy hiệu suất chăn nuôi lợn chưacao. Tuy nhiên, một số ít hộ mái ấm gia đình mạnh dạn góp vốn đầu tư vốn cho chăn nuôi, biết ápdụng những tân tiến khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi như : Sử dụng những loại thức ănhỗn hợp ngoài thị trường để rút ngắn thời hạn chăn nuôi, tăng hiệu suất đem lạihiệu quả kinh tế tài chính cao cho người chăn nuôi. Công tác giống lợn đã được chăm sóc, nhiều hộ mái ấm gia đình chăn nuôi lợn náiMóng Cái hay nái F ( Móng cái x Landrace ) hoặc nái ngoại thuần để dữ thế chủ động congiống và phân phối một phần mẫu sản phẩm ra thị trường. Công tác vệ sinh thú y còn hạn chế, việc tiêm phòng hàng năm chưa triệt đểnên bệnh vẫn xảy ra gây thiệt hại cho người chăn nuôi, đồng thời ảnh hưởng tác động đếnsản phẩm chăn nuôi phân phối ra thị trường. Trong những năm tới, tiềm năng là phảiđưa được hiệu suất loại sản phẩm, chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu cũng nhưđẩy mạnh hơn nữa việc chăn nuôi theo hình thức chăn nuôi công nghiệp. + Chăn nuôi gia cầmTổng đàn gia cầm lên tới 27.500 con. Nhìn chung, chăn nuôi gia cầm trongtoàn P. Quang Vinh khá tăng trưởng, hầu hết là chăn nuôi gà, vịt theo phươngthức chăn nuôi tự nhiên và bán chăn thả. Bên cạnh đó có một số ít hộ mái ấm gia đình mạnhdạn góp vốn đầu tư vốn thiết kế xây dựng những trang trại quy mô từ 5.000 – 8.000 gà thịt / lứa, áp dụngcác tân tiến khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã đưa hiệu suất lên cao. Nhờ những tân tiến khoa học kỹ thuật vận dụng vào chăn nuôi đã có một số gia đìnhchăn nuôi theo phương pháp công nghiệp và bán công nghiệp, mua những con giống mới cónăng suất cao về nuôi như : gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà Sasso, AA, Ross 508, CP 707 Kết quả đã đem lại thu nhập khá cao cho những hộ chăn nuôi. Đa số những hộ chăn nuôi gia cầm đã ý thức được tầm quan trọng của việc tiêmphòng và chữa bệnh, nhất là sử dụng những loại Vaccine tiêm chủng cho gà như : VaccineCúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, IB, Song vẫn còn 1 số ít hộ chăn nuôi chưaý thức được công tác làm việc phòng bệnh cho vật nuôi, đó cũng là điều đáng quan ngại vì đó làđiểm cư trú và phát tán mầm bệnh gây mối đe dọa cho đàn gia cầm trên địa phận phường. * Công tác thú yCông tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó quyếtđịnh đến thành công xuất sắc hay thất bại của người chăn nuôi, đặc biệt quan trọng trong điều kiện kèm theo chănnuôi quảng canh. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng tác động đến sức khoẻ của hội đồng, ảnhhưởng đến tăng trưởng kinh tế tài chính của người dân. Vì vậy, công tác làm việc thú y luôn được banlãnh đạo những cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi rất là chăm sóc, chútrọng như : + Tuyên truyền quyền lợi vệ sinh phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi. + Tập trung chỉ huy tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm trên địa phận. + Thường xuyên huấn luyện và đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở. + Theo dõi tình hình, diễn biến dịch bệnh để kịp thời có giải pháp chỉ huy. Chính thế cho nên, trong nhiều năm gần đây ngành chăn nuôi của phường đượcphát triển mạnh, bảo vệ bảo đảm an toàn kể cả quy trình tiến độ dịch cúm gia cầm xảy ra hầu hết ởcác địa phương trong toàn nước. 1.1.4. Một số thông tin về cơ sở thực tập * Địa hình, đất đaiTrại gà mái ấm gia đình ông Nguyễn Văn Hoạt được xây dựng vào năm 2006 tại xómThần Vì, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên nằm trên tuyến đường đi ranghĩa trang Thần Vì, phía nam cách đường tàu 200 m, cách TT thành phố 3 kmđi về phía nam. – Trại có diện tích quy hoạnh 3 ha trong đó : – Diện tích trại 800 mhai tầng mỗi tầng 400 m – Diện tích đất trồng trọt là 4000 m – Diện tích ao nuôi cá là 3000 m – Diện tích kho chứa cám, dụng cụ trang thiết bị của trại, máy phát điện là 600 m – Còn lại là những loại đất chưa sử dụng và sử dụng vào mục tiêu khác. * Ngành trồng trọtDo diện tích quy hoạnh của trại hẹp nên việc tăng trưởng ngành trồng trọt Giao hàng chănnuôi của trại rất hạn chế, chưa có điều kiện kèm theo để tăng trưởng. * Ngành chăn nuôiNăm 2006, Trại đã được thiết kế xây dựng đi vào sản xuất gà thịt. Từ năm 2006 đến nay trại chăn nuôi chuyên giống gà CP 707 do công ty CPcung cấp, với quy mô từ 7000 – 8000 gàMấy năm gần đây tình hình dịch cúm gia cầm trong nước cũng như điạphương có phần ảnh hưởng tác động đến trại gà của chủ hộ Nguyễn Văn Hoạt nhưng với côngtác phòng chống dịch bệnh khắt khe nên vẫn bảo vệ bảo đảm an toàn dịch bệnh. * Công tác thú y : Công tác thú y rất là được chăm sóc. Với mục tiêu ” phòng bệnh hơnchữa bệnh “, trại đã triệt để triển khai tốt tiến trình vệ sinh thú y đồng thời công tácchăm sóc, nuôi dưỡng cũng quan tâm đúng mức nên dịch bệnh không xảy ra. Hệ thống chuồng nuôi được bảo vệ thông thoáng về mùa hè, ấm cúng về mùađông. Mùa hè có mạng lưới hệ thống làm mát bằng quạt và vòi phun nước, mùa đông có hệthống chắn gió Trại có hàng rào chắn xây bao xung quanh bảo vệ ngăn cách, khác biệt với khu dân cư. Hàng ngày chuồng trại, máng ăn, máng uống, dụng cụ choăn được quét dọn, cọ rửa thật sạch trước khi cho gà ăn. Quy trình tiêm phòng cho đàngia cầm được triển khai tráng lệ với loại vaccin như : Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm. Định kỳ tổng vệ sinh toàn bộkhu vực trại. Hàng ngày cán bộ kỹ thuật theo dõi, phát hiện gia cầm nhiễm bệnh vàtiến hành điều trị hoặc loại thải kịp thời. 1.1.5. Nhận xét chungQua hiệu quả khám phá và tìm hiểu thực tiễn tại Trại chúng tôi rút ra những nhậnxét chung như sau : 1.1.5. 1. Thuận lợi – Trại cách xa khu dân cư nên hạn chế được dịch bệnh xảy ra. – Trại luôn được sự chăm sóc và chỉ huy sát sao của chỉ huy Sở Nông nghiệp vàPTNT, Chi cục thú y tỉnh Thái Nguyên và những cơ quan ban ngành tương quan. – Trại nằm trong địa phận thành phố Thái Nguyên, có vị trí gần những TT khoahọc kỹ thuật và trục đường giao thông vận tải là điều kiện kèm theo thuận tiện để tăng trưởng sản xuất, tiếpnhận và chuyển giao những tân tiến khoa học kỹ thuật vào sản xuất. 1.1.5. 2. Khó khăn – Do đất đai bạc mầu, nghèo dinh dưỡng và khí hậu ở 1 số ít tháng trongnăm không được thuận tiện nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn vất vả, năng lực sinhtrưởng, tăng trưởng của vật nuôi cây cối bị hạn chế. – Do mới được xây dựng và tăng cấp nên Trại không tránh khỏi những khókhăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và sản xuất, kinh nghiệm tay nghề sản xuất, kinh nghiệm tay nghề quản trị chưa nhiều. 1.2. Nội dụng, chiêu thức hiệu quả công tác làm việc Giao hàng sản suất1. 2.1. Nội dung ship hàng sản xuất1. 2.1.1. Công tác Giao hàng sản xuấtĐể bảo vệ tốt trách nhiệm thực tập tốt nghiệp theo nhu yếu của nhà trường, khoa cũng như giáo viên hướng dẫn, chúng tôi đã đưa ra 1 số ít nội dung trong thờigian thực tập tại cơ sở như sau : – Công tác ứng dụng văn minh kỹ thuật về chăn nuôi + Công tác giống : Tham gia tinh lọc gà giống những loại. + Công tác thức ăn : Tính toán lượng thức ăn gà ăn hàng ngày. + Công tác chăm nom nuôi dưỡng : Chăm sóc hàng loạt gà của trại – Công tác thú yCông tác thú y tại cơ sở trong thời hạn thực tập chúng tôi đề ra công việcphải thực thi như sau : + Ra vào trại đúng nội quy lao lý. + Làm tốt công tác làm việc vệ sinh môi trường tự nhiên, chuồng trại và xung quanh chuồng trại. + Thực hiện trang nghiêm quy trình tiến độ tiêm phòng. + Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho vật nuôi. 1.2.1. 2. Công tác nghiên cứu và điều tra khoa họcThực hiện chuyên đề nghiên cứu và điều tra khoa học với tên đề tài : “ Nghiên cứu sửdụng chế phẩm HanvetK. T.G nhằm mục đích nâng cao sức đề kháng và cải tổ khảnăng sinh trưởng cho gà thịt CP 707 tại Tỉnh Thái Nguyên ” 1.2.2. Phương pháp tiến hànhTheo nhu yếu của nội dung thực tập tốt nghiệp trong thời hạn thực tập tại cơsở bản thân đề ra 1 số ít giải pháp thực thi như sau : – Tìm hiểu kỹ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập và khu vực vành đai. – Tham gia tích cực công tác làm việc tiêm phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia cầm. – Tham gia công tác làm việc chuyển giao con giống và kỹ thuật cho những hộ sản xuất. – Luôn luôn chấp hành, tham gia những hoạt động giải trí của cơ sở, tiếp thu quan điểm củacán bộ chỉ huy, của cô giáo hướng dẫn, tranh thủ thời hạn tiếp xúc với thực tiễn đểnâng cao kinh nghiệm tay nghề, nắm vững kỹ năng và kiến thức chuyên ngành hơn nữa. – Áp dụng những văn minh khoa học kỹ thuật mới mà bản thân tôi đã được học vàtìm hiểu vào thực tiễn sản xuất. – Tiến hành thí nghiệm sử dụng chế phẩm Hanvet K.T.G bổ trợ vào thức ănnhằm theo dõi mức độ ảnh hưởng tác động đến năng lực sinh trưởng và nâng cao sức đề khángcủa gà CP 7071.2.3. Kết quả công tác làm việc ship hàng sản xuấtTrong quy trình thực tập tại Trại gà chú Hoạt, được sự trợ giúp tận tình củathầy giáo hướng dẫn và cán bộ, công nhân viên của trại, phối hợp với sự nỗ lực cốgắng của bản thân, tôi đã lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm tay nghề quý báu trong thực tiễnsản xuất và đã đạt được 1 số ít tác dụng sau : * Công tác chọn giốngCông tác chọn giống là một phần rất là quan trọng quyết định hành động đến hiệuquả chăn nuôi. – Phân loại gà con mới nở ra : Gà con mới nở ra phải chọn phân loại loại I, loại II. Gà loại I là những con nhanh gọn khoẻ mạnh, mắt sáng lông mượt, chânbóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ và bảo vệ khối lượng lao lý đối vớitừng loại giống. * Công tác chăm nom nuôi dưỡngTuỳ theo từng tiến trình tăng trưởng của gà và tuỳ từng loại gà mà ta áp dụngquy trình chăm nom, nuôi dưỡng cho tương thích. – Giai đoạn úm gà con : Khi chuyển từ khu ấp trứng về chúng tôi thực thi chogà con vào quây và cho gà uống nước ngay. Nước uống cho gà phải sạch và phaB. Complex + vitamin C + đường glucoza 5 % cho gà uống hết lượt sau 2 – 3 h mới chogà ăn bằng khay. Giai đoạn đầu nhiệt độ trong quây là 30 – 33C. Sau 1 tuần tuổi nhiệt độ cầnthiết là trên 30C, sau đó nhiệt độ giảm dần theo ngày tuổi. Thường xuyên theo dõi đàn gà để kiểm soát và điều chỉnh chụp sưởi bảo vệ nhiệt độ thíchhợp theo lao lý. Trường hợp nếu gà tập trung đông, tụ đống dưới chụp sưởi là hiệntượng gà thiếu nhiệt cần hạ thấp chụp sưởi, hoặc tăng bóng điện. Còn gà tách ra xachụp sưởi là nhiệt độ nóng quá phải giảm nhiệt cho tương thích. Chỉ khi nào thấy gà tảnđều ra trong quây thì khi đó là nhiệt độ trong quây tương thích. Quây gà, máng ăn, mánguống, rèm che đều được kiểm soát và điều chỉnh theo tuổi gà ( độ lớn của gà ) ánh sáng được đảmbảo cho gà hoạt động giải trí thông thường. 1.2.3. 1. Công tác thú y * Công tác phòng bệnh cho đàn gàTrong chăn nuôi, công tác làm việc đề phòng dịch bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyếtðịnh ðến hiệu suất cao kinh tế tài chính chãn nuôi và bảo mật an ninh kinh tế tài chính nông nghiệp. Do vậy, trong quátrình chăn nuôi, chúng tôi cùng với cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại thường xuyênquét dọn vệ sinh chuồng trại, khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sáttrùng định kỳ, tẩy uế, máng ăn, máng uống. Trước khi vào chuồng cho gà nhà hàng siêu thị phảithay bằng quần áo lao động đã được giặt sạch, đi ủng, đeo khẩu trang để bảo vệ sức khoẻngười lao động và phòng bệnh cho gia cầm. Gà nuôi ở trại được sử dụng thuốc phòngbệnh theo lịch trình sau. Tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm để có miễn dịch dữ thế chủ động bảo vệ antoàn trước dịch bệnh. Trước ngày sử dụng vaccine không pha thuốc kháng sinh vàonước uống trong vòng 8 – 12 h, pha vaccine vào lọ dùng để nhỏ trực tiếp vào miệng, mắt, mũi hoặc pha ở dạng dung dịch để tiêm. Tính toán liều vaccine phải đủ để mỗicon nhận được một liều. Dụng cụ pha và nhỏ vaccine không có thuốc sát trùng hoặcxà phòng, nhiệt độ bảo vệ từ 20 – 25C. Chúng tôi sử dụng vaccine phòng bệnhcho đàn gà theo lịch như sau : Bảng 1.1. Lịch phòng vắc xin cho gàNgày tuổi Loại vaccine Phương pháp1-5 Lasota lần 1, Nhỏ mắt, mũi 1 giọtGumboro lần 1 Nhỏ miệng 1 – 2 giọt7 H5N1 Tiêm dưới da cổ10 Gumboro lần 2 Nhỏ miệng 1 – 2 giọt15 Lasota lần 2 Nhỏ mắt, mũi 1 giọt * Chẩn đoán và điều trị bệnhTrong quy trình chăm nom và nuôi dưỡng đàn gà tại trại gà ông Hoạt, chúngtôi luôn theo dõi tình hình sức khoẻ của đàn gà để chẩn đoán và có những hướngđiều trị kịp thời. Thời gian thực tập ở trại, chúng tôi thường gặp 1 số ít bệnh sau : * Bệnh viêm đường hô hấp cấp mãn tính ở gà ( CRD, hen gà ) – Nguyên nhân : Bệnh do Mycoplasma gallisepticum gây ra. Các yếu tố tácđộng gây nên bệnh cho gà như : điều kiện kèm theo thời tiết, dinh dưỡng kém, chuồng trạikhông bảo vệ vệ sinh ( chật trội, ẩm thấp ) làm cho gà giảm sức đề kháng và dễmắc bệnh ở gà. – Triệu chứng : Gà mắc bệnh có bộc lộ chảy nước mắt, nước mũi, thở khòkhè, phải há mồm ra để thở, xoã cánh, gà hay quét mỏ xuống đất, đứng ủ rũ, cótiếng rít rất nổi bật ( nghe rõ về đêm ), gà kém ăn, gầy đi nhanh gọn. – Bệnh tích : Xác gà gầy, nhợt nhạt, khí quản có dịch, niêm mạc có chấm đỏ, phổinhợt nhạt. Khi ghép với E.coli thấy xuất huyết dưới da, lách sưng, ruột xuất huyết. 10 – Điều trị : + Anti – CRD : Liều 2 g / lít nước uống, dùng liên tục trong vòng 3-5 ngày. Tấtcả những loại bệnh khi điều trị cần tích hợp với những loại thuốc nhằm mục đích tăng sức đề khángnhư : Bcomplex ( 1 g / 3 lít nước ), vitamin C, đường Glucose. + Bệnh CRD thường ghép với bệnh E.coli, do đó khi điều trị bệnh chúng tôi sửdụng Bio – Enrafloxacin 10 %, liều lượng 1 ml / 2 lít nước uống dùng trong 3 – 5 ngày. * Bệnh cầu trùng ( Coccidiosis ) – Nguyên nhân : Bệnh cầu trùng do 9 loại Coccidia gây ra, chúng ký sinh ở tếbào biểu mô ruột. Tuỳ theo từng chủng loại và vị trí gây bệnh mà có những triệuchứng gây bệnh khác nhau. – Triệu chứng : Thường gặp ở 2 thể + Cầu trùng manh tràng : thường gặp ở gà con từ 4-6 tuần tuổi ; gà bệnh ủ rũ, bỏăn, uống nước nhiều, phân lỏng lẫn máu tươi hoặc có màu sôcôla, mào nhợt nhạt ( dothiếu máu ). Mổ khám thấy manh tràng xuất huyết. + Cầu trùng ruột non gà : Bệnh thường ở thể nhẹ. Triệu chứng hầu hết là gà ủrũ, xù lông, cánh rũ, lờ đờ, phân màu đen như bùn, lẫn nhầy nhiều lúc lẫn máu ; gà gầy, chậm lớn, chết rải rác lê dài tỷ suất chết thấp. – Điều trị : Chúng tôi sử dụng những loại thuốc sau : Hancoc, liều lượng 1,5 – 2 ml / 1 lítnước uống dùng trong 4 – 5 ngày liên tục, nghỉ 3 ngày rồi lại dùng 5 ngày liên tục nữa ; ESB 32 %, Anti coccidae – liều lượng 2 g / lít nước uống dùng trong 3 – 5 ngày liên tục. Ngoài ra, để chống chảy máu chúng tôi tích hợp với Hanvit C và K, liều lượng 0,5 – 1 g / 1 lít nước uống. * Bệnh bạch lỵ gà con – Nguyên nhân : Do vi trùng gram âm Salmonella gallinarum và Salmonellapullrum gây ra. – Triệu chứng : Gà con mắc bệnh biểu lộ kém ăn, lông xù, ủ rũ, phân có màutrắng, phân loãng dần và dính quanh hậu môn. Đối với gà thường ở thể mãn tính. – Điều trị : + Dùng Getacostrim với liều là 1 g / 1 lít nước uống, cho gà uống liên tục3 – 4 ngày. + Dùng Ampicoli, liều dùng 1 g / 1 lít nước, cho uống 3-5 ngày liên tục kếthợp với Bcomplex liều 1 g / 3 lít nước. * Bệnh báng nước – Nguyên nhân : 11 + Bệnh báng nước xảy ra quanh năm nhưng về mùa đông tỷ suất mắc bệnh caohơn. + Nguyên nhân sinh bệnh hầu hết là do chăm nom, quản trị kém, đặc biệttrong tiến trình úm, không đủ nhịêt, kém thông thoáng, thiếu oxy và hàm lượng khíđộc ( HS, NH3, CO … ) cao là nguyên do hầu hết dẫn đến bệnh. – Triệu chứng : + Gà mắc bệnh từ rất sớm nhưng bộc lộ bệnh rõ vào tiến trình 5 – 25 ngày tuổi, đôi khi trước khi xuất thịt mới phát hiện ra bệnh, gà kém ăn, lờ đờ, sệ bụng do tích nước trong xoang bụng. + Thông thường gà chỉ chết do bội nhiễm vi trùng gây bệnh như bệnh cầutrùng, bệnh E.coli, bệnh CRD, … + Những trường hợp phát hiện được bệnh thì nên loại thải ngay vì gà bệnhkhả năng tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn cao, hơn nữa gà bệnh sẽ dễ mắc những bệnhtruyền nhiễm khác làm lây lan sang toàn đàn. Điều trị : + Hiện không có thuốc điều trị chỉ hoàn toàn có thể phòng bệnh bằng vệ sinh phòngbệnh tốt, chuẩn bị sẵn sàng chuồng úm phải thật sạch, thoáng khí, tốt nhất nên thắp đèn 6 – 8 giờ trước khi đưa gà vào úm. Phun thuốc sát trùng định kỳ + Nên có nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ. + Đặc biệt về mùa đông để bảo vệ nhiệt độ úm nên tăng nhiệt độ bằng cáchthêm bóng đèn hoặc tăng thêm nguồn nhiệt chứ không được đậy kín lồng úm. + Cho gà ăn theo bữa, hạn chế khẩu phần ăn 10 – 20 %, đặc biệt quan trọng về mùađông, do tại nếu ăn nhiều sẽ cần 1 lượng oxy lớn để tiêu tốn nguồn năng lượng, trong khiđó những gà đang mắc bệnh này lại đang thiếu oxy. 1.2.3. 2. Tham gia những việc làm khácTrong thời hạn thực tập, ngoài việc chăm nom, nuôi dưỡng đàn gà thínghiệm, bản thân tôi còn tham gia vào 1 số ít việc làm khác như : + Tiêu độc, khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh. + Tham gia tinh lọc và loại thải đàn gà không đạt tiêu chuẩn + Chăm sóc đàn gà cha mẹ, gà con, gà thịt. + Tham gia quản trị máy ấp, chọn trứng, tinh lọc gà giống. + Tham gia công tác làm việc tư vấn kỹ thuật chăn nuôi như hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôicho những hộ mái ấm gia đình mua con giống của trại, từ khâu thiết kế xây dựng chuồng trại đến khâu vệsinh phòng bệnh cũng như kỹ thuật chăm nom, nuôi dưỡng khi nuôi gia cầm, gia súc. 12S au 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại gà của chủ hộ Nguyễn Văn Hoạtchúng tôi đã tham gia và hoàn thành xong được 1 số ít công tác làm việc Giao hàng sản xuất đã đềra. Kết quả của công tác làm việc này được bộc lộ tổng quát qua bảng sau : Bảng 1.2. Kết quả công tác làm việc Giao hàng sản xuấtNội dung việc làm Đơn vị Số lượng Kết quả ( An toàn, Khỏi ) Số lượng Tỷ lệ ( % ) 1. Chăm sóc nuôi dưỡng An toànÚm gà con Con 7140 6950 97,3 Chăm sóc gà thịt Con 6950 6586 97,72. Phòng bệnh bằng vaccine An toànNhỏ lasota Con 7120 7120 100,00 Nhỏ Gumboro Con 7120 7120 100,00 Tiêm Newcastle Con 7120 7120 100.00 Tiêm cúm Con 7120 7120 100,003. Điều trị bệnh KhỏiBệnh cầu trùng Con 680 650 95,58 Bệnh bạch lỵ gà con Con 500 475 95,00 CRD Con 300 276 82,004. Công tác khác An toànSát trùng chuồng trại m800 800 100,001. 3. Kết luận và đề nghị1. 3.1. Kết luận1. 3.1.1. Bài học kinh nghiệmQua thời hạn thực tập tại trại của chủ hộ Nguyễn Văn Hoạt, được sự giúp đỡcủa Ban chỉ huy trại, cán bộ đảm nhiệm và thầy giáo hướng dẫn, cùng với chínhquyền địa phương đã tạo điều kiện kèm theo thuận tiện giúp tôi trong bước đầu tiếp xúc với thực tiễnsản xuất. Qua đó tôi đã vận dụng được những kiến thức và kỹ năng đã học ở trường để củng cốthêm kỹ năng và kiến thức và rèn luyện thêm trình độ của mình. Qua đợt thực tập này tôi thấy mình trưởng thành hơn về nhiều mặt, điều quantrọng nhất là tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm kinh nghiệm tay nghề có ích về trình độ từ thực tiễnsản xuất như : + Biết cách chăm nom, nuôi dưỡng, quản trị. + Biết cách dùng một số ít loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh. + Biết chẩn đoán một số ít bệnh thường thì và giải pháp điều trị. 13 + Tay nghề trong thực tiễn được nâng lên rõ ràng. Trong thời hạn thực tập được tiếp xúc với thực tiễn sản xuất đã giúp tôikhẳng định được tư tưởng vững vàng, rèn luyện tác phong thao tác, trau dồi, củng cố và nâng cao kiến thức và kỹ năng về trình độ nhiệm vụ, giúp tôi yêu ngành yêunghề, mê hồn với việc làm và không ngừng nỗ lực học hỏi để làm tốt hơn khira trong thực tiễn sản xuất. Tôi thấy rằng việc đi thực tập là một việc rất thiết yếu đối vớibản thân tôi cũng như tổng thể những sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường. 1.3.1. 2. Tồn tạiTrong thời hạn thực tập với tác dụng thu được, tôi thấy mình còn 1 số ít tồntại sau : + Do thời hạn thực tập có hạn và kinh nghiệm tay nghề trong thực tiễn chưa nhiều cho nênkết quả thu được chưa cao. + Còn yếu về kinh nghiệm tay nghề, đôi lúc chưa mạnh dạn trong việc làm. + Các kỹ năng và kiến thức được học tập và rèn luyện ở trường chưa thể vận dụng hếtvào thực tiễn sản xuất. 1.3.2. Đề nghịĐẩy mạnh hơn nữa công tác làm việc tuyên truyền và đưa tân tiến khoa học kỹ thuật vàosản xuất, tăng cường tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm ở quanh vùng vành đai củatrại. Đồng thời hoạt động, lý giải cho nhân dân hiểu biết và tự giác triển khai. Để đạt được hiệu suất cao kinh tế tài chính cao trong sản xuất kinh doanh thương mại, thì quy mô trangtrại cần trang bị không thiếu thiết bị văn minh và dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y. Mở rộngquy mô trang trại để đạt mục tiêu vừa là nơi nghiên cứu và điều tra khoa học vừa là nơi sản xuấtkinh doanh cho hiệu suất cao kinh tế tài chính cao, đáp ứng ra thị trường những mẫu sản phẩm thịt chấtlượng, bảo đảm an toàn cho người sử dụng. Tiếp tục tạo điều kiện kèm theo hơn nữa cho sinh viên vàothực tập tốt nghiệp cũng như triển khai những đề tài điều tra và nghiên cứu khoa học. Qua thời hạn thực tập, tuy hiệu quả đạt được chưa được nhiều nhưng đó lànguồn động viên rất lớn so với tôi và tôi cần cố gắng nỗ lực nhiều hơn nữa để có thêmnhiều kỹ năng và kiến thức và kinh nghiệm tay nghề vững vàng. 14PH ẦN 2CHUY ÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌCTên đề tài : “ Nghiên cứu sử dụng chế phẩm Hanvet K.T.G nhằm mục đích nâng cao sức đề khángvà cải tổ năng lực sinh trưởng cho gà thịt CP 707 tại Tỉnh Thái Nguyên ” 2.1. Đặt vấn đềTrong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm đã và đang được chú trọng đầutư tăng trưởng, bởi nó chiếm một vị trí rất là quan trọng trong ngành chăn nuôi nóiriêng và so với nền kinh tế tài chính nói chung. Hơn nữa, thịt gà là một loại thịt được nhândân ưa dùng, tương thích với thị hiếu của người tiêu dùng, được sử dụng thoáng rộng trongđời sống hàng ngày. Ngành chăn nuôi gia cầm tăng trưởng mạnh cả về số lượng và chấtlượng là nhờ vận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến và phát triển vào sản xuất. Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa và văn minh hóa quốc gia, thì việcđầu tư cho tăng trưởng nông thôn bền vững và kiên cố là việc rất là quan trọng. Từ đó, Cụcchăn nuôi nước ta đã có những chủ trương thiết kế xây dựng một mạng lưới hệ thống chăn nuôi tiêntiến theo tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tăng trưởng ngành chăn nuôi theo hướngchất lượng và có hiệu suất cao, nhằm mục đích nâng cao sức cạnh tranh đối đầu của hàng hoá ViệtNam trên thị trường quốc tế. Để thôi thúc ngành chăn nuôi gà theo hướng tăng trưởng gắn liền với nền kinh tếthị trường, cùng với nhu yếu tiêu thụ trong và ngoài nước, ngoài yếu tố con giống vàviệc ứng dụng nhiều giải pháp như : Bổ sung kháng sinh, vitamin … vào thức ăn nướcuống thì việc sử dụng một số ít men vi sinh vật có ích dựa trên cơ sở của quy trình lênmen đang được sử dụng thoáng rộng, đem lại quyền lợi tương đối cao cho người chăn nuôi. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi thực thi điều tra và nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu sử sụng chếphẩm Hanvet K.T.G nhằm mục đích nâng cao sức đề kháng và cải tổ năng lực sinhtrưởng cho gà thịt CP 707 tại Tỉnh Thái Nguyên ”. * Mục đích của đề tài – Xác định tác động ảnh hưởng của chế phẩm đến sức đề kháng của gà thịt – Xác định ảnh hưởng tác động của chế phẩm đến năng lực sinh trưởng của gà thịt152. 2. Tổng quang tài liệu2. 2.1. Cơ sở khoa học2. 2.1.1. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gia cầmTheo Lê Hồng Mận ( 2007 ) [ 13 ] sự trao đổi chất và nguồn năng lượng ở gia cầm caohơn so với động vật hoang dã có vú và được bồi bổ nhanh chính bởi quy trình tiêu hóa và hấpthụ những chất dinh dưỡng. Khối lượng rất lớn những chất tiêu hóa đi qua ống tiêu hóathể hiện vận tốc và cường độ của những quy trình tiêu hóa ở gà, vịt, ở gà còn non tốc độlà 30 – 39 cm / giờ, gà con lớn hơn là 32 – 40 cm / giờ, và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm / giờ, chất tiêu hóa được giữ lại trong ống tiêu hóa không quá 2 – 4 giờ. * Tiêu hóa ở miệngGia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 – 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ lan rộng ra. Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ họng để đưa thứcăn về phía thực quản – thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp đón thức ăn, còn vị giác vàkhứu giác ý nghĩa kém hơn. Tuyến nước bọt kém tăng trưởng, thành phần hầu hết là dịch nhầy. Nước bọt cótác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nước bọt có chứa 1 số ít ítmen amylaza nên có ít công dụng so với tiêu hóa. Gà mái hoàn toàn có thể tiết 7 – 25 ml nước bọttrong một ngày đêm ( trung bình khoảng chừng 12 ml ) ( Nguyễn Duy Hoan, 1998 ) [ 3 ]. Thức ănvào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày, không giữ lại lâu ở diều. * Tiêu hóa ở diềuDiều gà hình túi ở thực quản chứa được 100 – 120 mg thức ăn. Giữa những cơthắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dưới của thực quản vàdạ dày không qua túi diều. Ở diều thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do những menvà vi trùng có trong thức ăn thực vật. Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn. Khithức ăn và nước có tỉ lệ 1 : 1 thì được giữ lại ở diều 5 – 6 giờ. Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 – 5,8. Sau khi ăn từ 1 – 2 giờ diều co bóp theodạng dãy với khoảng cách 15 – 20 phút, sau khi ăn từ 5 – 12 giờ là 10 – 12 phút. Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phângiải thành đường đa rồi một phần chuyển thành đường glucoza * Tiêu hóa ở dạ dàyDạ dày chia ra : Dạ dày tuyến và dạ dày cơ – Dạ dày tuyến : Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày, khối lượngkhoảng từ 3,5 – 6 gam. 16V ách gồm màng nhầy, cơ và mô liên kếtDịch có chứa chlohydric, pepsin và musin. Sự tiết dịch diễn ra liên tục, saukhi ăn càng được tăng cườngThức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ănchuyển xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ ( không quá mộtlần / phút ) – Dạ dày cơ : Cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh. Dạ dày cơ khôngtiết dịch tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ. Thức ănđược nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới công dụng của men dịch dạdày, enzyme và những vi trùng. Acid Chlohydric ảnh hưởng tác động làm cho những pepton và mộtphần thành những acid amin. Từ dạ dày cơ, những chất dinh dưỡng được truyền vào tá tràng có những men củadịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường tự nhiên kiềm hóa tạo điều kiện kèm theo thích hợpcho sự hoạt động giải trí của những men phân giải protein và glucid. Sỏi và những dị vật trongdạ dày làm tăng ảnh hưởng tác động nghiền của vách dạ dày. Tốt nhất nên cho gà ăn sỏi thạchanh vì không bị phân hủy bởi Acid Chlohydric. Tiêu hóa ở ruộtQuá trình cơ bản nghiên cứu và phân tích men từng bước những chất dinh dưỡng đều đượctiến hành hầu hết ở ruột non. Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7.42 với độ đặc 1.0076 và chứa cácmen proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza. Dịch tuyến tụy – pancreatic – lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơitoan hoặc kiềm ( pH = 6 ở gà, pH = 7,2 – 7,5 ở gia cầm khác ). Dịch này có mentripsin, carboxi peptidaza, mantaza và lipaza. Trong những chất khô của dịch này cócác acid amin, lipid và những chất khoáng CaCl, NaCl, NaHCOGà một năm tuổi, lúc thông thường tuyến tụy tiết ra 0,4 – 0,8 ml / giờ, sau khi 5 – 10 phút lượng tiết tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm dần. Thànhphần thức ăn có tác động ảnh hưởng đến quy trình tiết dịch men của tụy, thức ăn giàu proteinnâng hoạt tính proteolyse lên 60 %, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic, … Mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, lỏng màu sánghoặc xanh đậm, tính kiềm, pH = 7,3 – 8,5. Mật có vai trò phong phú trong quy trình tiêu hóa của gia cầm, gây nên nhũtương mỡ, hoạt hóa những men tiêu hóa của dịch tụy, kích thích làm tăng nhu động17ruột, tạo điều kiện kèm theo hấp thu những chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa, đặc biệt quan trọng là cácacid béo mà chúng tạo thành những hợp chất dễ hòa tan. Mật ngăn cản việc gây nênvết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có tính diệt khuẩn. Ở ruột gluxit được phân giải thành những monosaccarit do men amylaza củadịch tụy, một phần của dịch ruột. Phần dưỡng chất không được hấp thu ở ruột non chuyển xuống manh tràngvà van hồi manh tràng của ruột già. Ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầytiết ra dịch nhầy. Quá trình tiêu hóa trong ruột già phụ thuộc vào vào enzyme của ruộtnon đi xuống, những enzyme này chỉ hoạt động giải trí ở phần đầu ruột già. Ở đây cũng diễnra quy trình tiêu hóa như ở ruột trong ruột non. Trong ruột già còn có hệ vi sinh vật cư trú, về số lượng và chủng loại giốngnhư trong dạ dày cỏ của động vật hoang dã nhai lại. Các vi sinh vật này hoạt động giải trí đa phần ởmanh tràng, phân giải cellulose, bột đường, protein. Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do công dụng của emzyme ở ruộtnon đi xuống còn hầu hết nhờ tính năng của hệ vi sinh vật. Quá trình tiêu hóacellulose và tiêu hóa protein tạo ra những acid béo bay hơi và những amino acid sẽ đượchấp thu ở đây. Một số vi trùng lại sử dụng 1 số ít chất trong ruột già để tổng hợp nênvitamin K, vitamin B12, và phức tạp vitamin B. Trong ruột già còn có quy trình viênphân, tạo phân ( Hoàng Toàn Thắng và cs, 2005 ) [ 19 ]. 2.2.1. 2. Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố tác động ảnh hưởng đến năng lực sinhtrưởng của gia cầm * Khái niệm sinh trưởngLà một sinh vật hơn nữa là một khung hình sống hoàn hảo, vật nuôi có những đặctrưng cơ bản của sự sống. Trong những đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng là một đặctrưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu chăm sóc. Theo tài liệu của Chambers J.K ( 1990 ) [ 29 ], thì tác giả MoZan ( 1977 ) đã đưara khái niệm : Sinh trưởng khung hình là tổng hợp sự sinh trưởng của những bộ phận nhưthịt, xương, da. Những bộ phận này không riêng gì khác nhau về vận tốc sinh trưởng màcòn phụ thuộc vào vào chính sách dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác. Trần Đình Miên ( 1992 ) [ 14 ], đã khái quát như sau : “ Sinh trưởng là quy trình tích góp những chất hữu cơ dođồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của những bộphận và toàn khung hình con vật trên cơ sở đặc thù di truyền từ đời trước ”. 18S inh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quy trình đổi khác chấtlượng, là sự tăng lên và hoàn hảo những đặc thù, tính năng hoạt động giải trí của khung hình. Hai quy trình đó tương quan mật thiết và tác động ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự triển khai xong cơthể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của khung hình gia súc tuân theo tính quyluật và theo tiến trình. * Những tác nhân tác động ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm – Ảnh hưởng của dòng, giốngTrong cùng điều kiện kèm theo chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có năng lực sinhtrưởng khác nhau. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và Cs ( 1994 ) [ 8 ], sự khác nhau vềkhối lượng khung hình gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng hiệu suất thịt cao hơngiống gà hướng trứng từ 500 – 700 g / con ( 13 – 30 % ). Theo tài liệu của Chambers. J.K ( 1990 ) [ 29 ], thì nhiều gen ảnh hưởng tác động đến sựphát triển của khung hình gà. Có gen tác động ảnh hưởng đến sự tăng trưởng chung hoặc tác động ảnh hưởng tớisự tăng trưởng theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng không liên quan gì đến nhau. – Ảnh hưởng của tính biệt và vận tốc mọc lôngSự khác nhau về vận tốc sinh trưởng và khối lượng của khung hình con do yếu tốtính biệt pháp luật trong đó con trống có vận tốc sinh trưởng nhanh hơn con mái. Theo Phùng Đức Tiến ( 1997 ) [ 22 ], thì J.F.Hayers ( 1979 ) đã xác lập biến dị ditruyền về vận tốc mọc lông nhờ vào vào giới tính. Những alen pháp luật vận tốc mọc lôngnhanh tương thích với tăng khối lượng cao. Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gàmái mọc lông nhanh hơn gà trống. Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm cótốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn. Đây cũng là tính trạng ditruyền link với giới tính ( BiichelH và Brandsch, 1987 ) [ 27 ]. – Ảnh hưởng của chính sách dinh dưỡngChế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng so với sinh trưởng của gia cầm. Việc cung ứng khá đầy đủ những chất dinh dưỡng và cân đối giữa những chất sẽ giúp cho giacầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng. Dinh dưỡng là một trong những tác nhân quan trọng quyết định hành động đến khả năngsinh trưởng của gia cầm, khi phân phối đủ nhu yếu dinh dưỡng thì thời hạn đạt khốilượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống. Theo Chambers J.K ( 1990 ) [ 29 ], thì đối sánh tương quan giữa tăng trọng của gà vàhiệu quả sử dụng thức ăn khá cao ( r = 0,5 – 0,9 ). Để phát huy năng lực sinh trưởngcủa gia cầm không những cần phân phối đủ nguồn năng lượng thức ăn theo nhu yếu, mà19còn phải bảo vệ cân đối protein, acid amin và nguồn năng lượng. Do vậy, khẩu phần ăncho gà phải tuyệt vời trên cơ sở đo lường và thống kê nhu yếu của gia cầm và đây là một trongnhững yếu tố cơ bản. – Ảnh hưởng của môi trườngĐiều kiện môi trường tự nhiên có ảnh hưởng tác động lớn đến quy trình sinh trưởng củagia cầm. Nếu điều kiện kèm theo thiên nhiên và môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm, thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện kèm theo môi trường tự nhiên không thuận tiện, thì tạo điều kiện kèm theo cho vi sinh vật tăng trưởng gây bệnh tác động ảnh hưởng đến sức khỏecủa gia cầm. Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ suất chết, gây thiệt hại kinhtế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ( Wasburn, K.Wepal, 1992 ) [ 32 ]. Chế độ chiếu sáng cũng tác động ảnh hưởng tới năng lực sinh trưởng, vì gà rấtnhạy cảm với ánh sáng, do vậy, chính sách chiếu sáng là một yếu tố cần quantâm. Ngoài ra, trong chăn nuôi cũng bị ảnh hưởng tác động bởi nhiều yếu tố khác nhaunhư : ẩm độ, độ thông thoáng, vận tốc gió lùa và tác động ảnh hưởng của tỷ lệ nuôinhốt đến năng lực sinh trưởng của gia cầm. * Những chỉ tiêu nhìn nhận năng lực sinh trưởng – Khối lượng khung hình : Khối lượng khung hình từng thời kỳ là chỉ tiêu sử dụngđể nhìn nhận năng lực sinh trưởng của gia cầm. Tuy nhiên, chỉ tiêu này xác địnhđược năng lực sinh trưởng ở một thời gian xác lập của khung hình nhưng không chỉ rađược sự sai khác về tỷ suất sinh trưởng của khung hình trong một khoảng chừng thời hạn ở cácđộ tuổi khác nhau. Chỉ tiêu khối lượng khung hình được minh họa bằng đồ thị gọi là đồ thị sinhtrưởng tích góp. Đồ thị này biến hóa theo dòng giống, điều kiện kèm theo chăm nom nuôidưỡng. Đối với gia cầm khối lượng khung hình tính theo tuần tuổi có đơn vị chức năng làkg / con / tuần hoặc g / con / tuần. – Sinh trưởng tuyệt đối : Là sự tăng lên về khối lượng, size và thể tíchcủa khung hình trong khoảng chừng thời hạn giữa hai lần khảo sát. Sinh trưởng tuyệt đối tínhbằng g / con / ngày. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị sinh trưởngtuyệt đối càng cao thì càng có hiệu suất cao kinh tế tài chính cao. – Sinh trưởng tương đối : Là tỷ suất % tăng lên về khối lượng kích cỡ và thể tíchcơ thể lúc khảo sát so với lúc khởi đầu khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạnghypebol, gà còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi. 202.2.1.3. Vài nét về giống gà thịt CP 707 * Nguồn gốcTại Nước Ta, khi đưa những giống gà này vào sản xuất những hãng kinh doanhthức ăn chăn nuôi, thuốc thú y quốc tế cùng với những cơ quan đơn vị chức năng trong nướcđầu tiên là TT giống gia cầm Thụy Phương – viện chăn nuôi đã tiến hànhnghiên cứu với những điều kiện kèm theo thiên nhiên và môi trường khí hậu của nước ta và những điều kiện kèm theo chănnuôi như công nghệp, bán công nghiệp chuồng hở thông thoáng tự nhiên … từ nhữngnăm 1992. Công ty chăn nuôi CP Nước Ta cũng đã thực thi nghiên cứu và điều tra và lai tạogiống gà Ross 308 để tạo ra giống gà Broiler chuyên thịt với tên gọi là CP 707 cónhững phẩm chất trọn vẹn tương tự như gà Broiler Ross 308. Gà thịt CP 707 lúc mới nở cả con trống và mái đều có lông màu vàng. Lúctrưởng thành cả con trống và con mái đều có lông màu trắng, chân và mỏ màu vàng, mào đơn. Tỷ lệ thân thịt tương đối cao so với khối lượng sống, ngực sâu rộng, cơđùi và ngực tăng trưởng cho tỷ suất thịt hai phần này cao. Gà thịt CP 707 là một trong những giống gà chuyên thịt cao sản nhất trên thếgiới được nhập vào nước ta từ những năm 90 để nuôi thí nghiệm tại những cơ sởgiống đầu ngành như TT giống gia cầm Thụy Phương, xí nghiệp sản xuất giống TamĐảo để theo dõi sau đó nhân rộng ra cả nước. Khi đưa ra nuôi đại trà phổ thông hay quy môcông nghiệp thì rất được ưu thích do năng lực thích nghi chống chịu với khí hậuViệt Nam tốt hơn nhiều giống cao sản khác, sinh trưởng nhanh trong khi tiêu tốnthức ăn ít chất lượng thịt tốt. * Đặc điểm và chỉ tiêu năng xuất – Đặc điểmTrống và mái đều có lông màu trắng, con trống có da mào đỏ hơn con mái. Con trống có size lớn hơn con mái ở quy trình tiến độ 3 tuần tuổi trở đi. Con trốngcó mào, tích, tai tăng trưởng, mào đỏ tươi, mào đơn ức sâu nhiều thịt. – Chỉ tiêu năng suấtTheo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ( 2007 ) [ 1 ] chobiết : khối lượng gà CP 707 nuôi thịt đến 42 ngày tuổi trung bình nặng là 2,5 – 3,0 kg, tiêu tốn thức ăn / kg tăng khối lượng là 1,6 – 2,0 kg2. 2.1.4. Những hiểu biết về bệnh đường tiêu hoá của gàDo gà có đặc tính tiêu hoá nhanh cho nên vì thế khi ăn thức ăn có nhiễm khuẩn, chuồng nuôi không vệ sinh hoặc môi trường tự nhiên đổi khác thì bệnh lây lan rất nhanh, trong đó phải kể đến một số ít bệnh như cầu trùng, bạch lỵ, Salmonella, E.coli.

Bài viết liên quan
0328593268
icons8-exercise-96 chat-active-icon